Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm – Tài liệu text

Bài viết Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm – Tài liệu text thuộc chủ đề về Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng khoalichsu.edu.vn tìm hiểu Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem chủ đề về : “Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm – Tài liệu text”

Đánh giá về Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm – Tài liệu text


Xem nhanh
ACCA F8 Internal Control | Hệ thống Kiểm soát nội bộ của khách hàng
Ủng hộ: https://tuonthi.com/ho-tro/
Bài viết: https://tuonthi.com/acca-f8-internal-control/
Các bạn đừng quên Share u0026 Like để ủng hộ bọn mình nhé!
© Bản quyền thuộc về Tuonthi.com ☞ Không được up lại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (297.75 KB, 40 trang )

Lời nói đầuKiểm soát nội bộ là một chức năng của quản lý, trong phạm vi cơ sở, kiểmsoát nội bộ là việc tự kiểm tra và giám sát mọi hoạt động trong tất cả các khâu củaquá trình quản lý nhằm đảm bảo các vận hành đúng luật pháp và đạt đợc các kếhoạch mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất và bảo đảm sự tin cậy của báo cáo tàichính.nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát có mốiquan hệ mật thiết với nhéu. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tốt thì rủi rokiểm soát đợc đánh giá ở mức thấp, khi đó kiểm toán viên có thể thu hẹp phạm vi,nội dung, khối lợng công việc kiểm toán đồng thời tiết kiệm chi phí kiểm toán vàngợc lại. ngoài ra, nếu đánh giá không đúng về tình hình, độ tin cậy của hệ thốngkiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát thì kiểm toán viên có thể sẽ bỏ sót những nộidung trọng yếu và không tránh khỏi rủi ro kiểm toán. Do vậy việc kiểm toán viêncó đợc sự hiểu biết và cách đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ có ý nghĩa rất quantrọng trong quá trình kiểm toán.Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này trong lý luận và thực tiễn, emđã chọn đề tài thống kê hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểmsoát trong kiểm toán báo cáo tài chính. Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề án đợcchia làm hai phần:- Phần 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ.- Phần 2: Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát.1Phần ITổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ1.1. Vai trò của việc thống kê hệ thống kiểm soát nội bộcủa khách hàng trong quy trình kiểm toánKiểm soát nội bộ là một công cụ quản lý do chính ngời quản lý đơn vị xâydựng để phục vụ cho mục đích quản lý của mình. mặc khác, kiểm soát nội bộ củađơn vị có một ảnh hởng khá lớn đến kiểm toán viên: Đó là một cơ sở để lập kếhoạch kiểm toán và đánh giá rủi ro kiểm soát .Để lập kế hoạch kiểm toán sát với thực tế, kiểm toán viên phải dựa trên

những hiểu biết sâu sắc về đơn vị, trong đó hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộlà một nội dung quan trọng.Thứ nhất, dựa trên những hiểu biết về hồ sơ kiểm soát, hệ thống kế toánvà môi trờng kiểm soát chung, kiểm toán viên sẽ thiết kế đợc những giấy tờ kiểmsoát thích hợp đánh giá đợc khối lợng và độ phức tạp của công việc kiểm toán đểtừ đó xác định đợc kế hoạch thời gian cho cuộc kiểm toán.Thứ hai, qua nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị, kiểm toánviên xác định đợc điểm mạnh điểm yếu của nó để xác định trọng tâm cho cuộckiểm toán, đây là một nền tảng của kế hoạch kiểm toán.Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: Rủi ro kiểm soát là khảnăng xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trên báo cáotài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểmsoát nội bộ của đơn vị không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện ngăn ngừa vàsửa chữa kịp thời. Hệ thống kiểm soát nội bộ càng hữu hiệu thì rủi ro kiểm soátcàng nhỏ, ngợc lại rủi ro kiểm soát càng cao thì hệ thống kiểm soát nội bộ của đơnvị vận hành càng yếu kém.Kiểm toán viên phải tìm hiểu và đánh giá rủi ro kiểm soát để xác định ph-ơng hớng và phạm vi kiểm tra. Trong trờng hợp rủi ro kiểm soát cao, kiểm toánviên phải tăng cờng và mở rộng phạm vi kiểm tra để phát hiện đợc các sai sóttrọng yếu trên báo cáo tài chính. Ngợc lại, rủi ro kiểm soát thấp nghĩa là đơn vị cómột hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu, kiểm toán viên có thể giới hạn phạm vikiểm tra mà vẫn đảm bảo giới hạn sai sót ở mức độ cho phép.Chuẩn mực kiểm toán quốc tế đã quy định rõ kiểm toán viên cần nghiêncứu đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty một cách thấu đáo, có tổchức. Kiểm toán viên dựa vào kết qủa nghiên cứu này để xác định nội dung, phạmvi và thời gian cho các phơng pháp kiểm toán sẽ thực hiện.2Chuẩn mực cũng thừa nhận rằng có những quy chế kiểm soát nội bộ củacông ty mà kiểm toán viên không thể tin cậy đợc. mặc khác ở hầu hết cácDoanh nghiệp ngời ta không thể hoàn tất công việc kiểm toán khi không dựa vàohệ thống kiểm soát nội bộ của công ty đó, Vì vậy cần phải nghiên cứu đánhgiá hệ thống kiểm soát nội bộ. Hiển nhiên là ở các công ty khác nhéu thìloại hình và sự phức tạp của hệ thống kiểm soát nội bộ ở đó cũng khác nhéu.Kiểm soát nội bộ là công cụ các nhà quản lý dùng trong vận hành kinhdoanh. Nó đợc thiết lập ra trớc hết không phải chỉ đáp ứng cho các kiểm toán viênhoàn tất công tác kiểm toán. Kiểm toán viên cần cân nhắc những phần mà kiểmsoát nội bộ có thể giúp ích cho mục đích kiểm toán của mình.1.2. Bản chất của hệ thống kiểm soát nội bộTrong mọi hoạt động của công ty, chức năng kiểm tra kiểm soát luôngiữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và đợc thực hiện chủ yếu bởi hệthống kiểm soát nội bộ của công ty.Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA 400): Hệ thống kiểm soát nộibộ là các quy định và Thủ tục kiểm soát do đơn vị dợc kiểm toán xây dựng và ápdụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra,kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trungthực và hợp lý; nằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị.Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC): Hệ thống kiểm soát nội bộ làmột hệ thống chính sách và giấy tờ nhằm bốn mục tiêu sau: bảo vệ của cải/tài sản của đơnvị; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháplý; và bảo đảm hiệu qủa của các hoạt động.Cả hai định nghĩa trên đều đặn cho thấy rằng kiểm soát nội bộ là một chức năng th-ờng xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có khả năng xảy ra trongtừng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn ngừa nhằm thực hiện có hiệu quả tấtcả các mục tiêu đặt ra của đơn vị:1) Bảo vệ tài sản của đơn vị:của cải/tài sản của đơn vị gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình, chúng có thể bịđánh cắp, lạm dụng hoặc bị h hại nếu không đợc bảo vệ bởi các hệ thống kiểmsoát thích hợp. Điều này cũng có khả năng xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khácnh: sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng2) Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế toán cung cấp là căn cứ quantrọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý. Các thông tin nàyphải đảm bảo tính kịp thời, tính chính xác, tin cậy, phản ánh đầy đủ và khách quancác nội dung chủ yếu của mọi vận hành kinh tế, tài chính.33) Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý:Hệ thống kiểm soát nội bộ đợc thiết kế trong công ty phải đảm bảocác quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến vận hành sản xuất kinh doanh củacông ty phải đợc tuân thủ đúng mức. chi tiết là:- Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạtđộng của Doanh nghiệp;- ngăn ngừa và phát hiện kịp thời cũng nh xử lý các sai sót và gian lận trongmọi vận hành của Doanh nghiệp;- Bảo đảm việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và việc lập báo cáo tàichính trung thực, khách quan.4) Bảo đảm hiệu quả vận hành và năng lực quản lý:Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị đợc thiết kế nhằm ngăn ngừa sựlặp lại không rất cần thiết của các tác nghiệp gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sửdụng kém hiệu quả các nguồn lực trong Doanh nghiệp. Định kỳ, các nhà quản lýthờng đánh giá kết quả hoạt động của công ty đợc thực hiện với cơ chế giámsát của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành củabộ máy quản lý Doanh nghiệp.Tuy nằm trong một thể thống nhất song bốn mục tiêu trên đôi khi cũng cómâu thuẫn với nhéu nh giữa tính hiệu quả của vận hành với mục đích bảo vệ tàisản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy. Nhiệm vụ của các nhàquản lý là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài hoàbốn mục tiêu trên.Khi tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, kiểm toán viêncần nhận thức đợc rằng mọi hệ thống kiểm soát nội bộ dù đợc thiết kế hoàn hảođến đâu cũng không thể ngăn chặn hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó lànhững Giảm cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Theo Chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, những Giảm đó đợc xácđịnh nh sau:- Ban giám đốc thờng yêu cầu chi phí cho hệ thống kiểm soát nội bộ khôngvựơt quá những lợi ích mà hệ thống đó mang lại.- Phần lớn các công tác kiểm tra nội bộ thờng tác động đến các nghiệp vụlặp đi lặp lại mà không tác động đến các nghiệp vụ bất thờng.- Sai sót bởi con ngời thiếu chú ý đãng trí, sai sót về xét đoán hoặc dokhông hiểu rõ yêu cầu công việc.- khả năng vợt tầm kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ, sự thông đồngcủa một ngời trong ban Giám đốc hay một nhân viên với những ngời khác ở tronghay ngoài đơn vị.- có khả năng những ngời chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ lạmdụng đặc quyền của mình.4- Do có sự biến động của tình hình, các hồ sơ kiểm soát bị lạc hậu hoặc bịvi phạm.1.3. Các khái niệm cơ bản.Có bốn khái niệm cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu hệ thống kiểm soátnội bộ và quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát.1.3.1. Trách nhiệm của ban Giám đốc.Ban Giám đốc, không phải kiểm toán viên, phải xây dựng và duy trì các quátrình kiểm soát của tổ chức. Khái niệm này là phù hợp với quy định là ban Giámđốc, không phải kiểm toán viên, có trách nhiệm đối với việc soạn thảo báo cáo tàichính phù hợp với các nguyên tắc kế toán đợc thừa nhận.1.3.2. Sự đảm bảo hợp lýMột công ty phải triển khai một hệ thống kiểm soát nội bộ mà cung cấp sự đảmbảo hợp lý, không phải đảm bảo tuyệt đối, là các báo cáo tài chính đợc trình bày trungthực. Hệ thống kiểm soát nội bộ đợc Ban Giám đốc khai triển sau khi đã nghiên cứu cảchi phí lẫn lợi ích của quy trình kiểm soát. Ban Giám đốc thờng không sẵn sàng thựchiện một hệ thống lý tởng vì chi phí có thể rất lớn.Ví dụ, đối với kiểm toán viên, trông chờ ban Giám đốc của một công ty nhỏthuê thêm nhân viên kế toán để đem lại một sự cải tiến nhỏ về độ tin cậy của sốliệu kế toán là điều không hợp lý. Thờng có thường xuyên kiểm toán viên để thực hiện cáccuộc kiểm toán bao quát hơn sẽ đỡ tốn kém hơn so với việc để sinh ra chi phíkiểm soát nội bộ cao hơn.1.3.3. Những giới hạn cố hữuMột hệ thống kiểm soát nội bộ không thể đợc xem là hoàn toàn hiệu quả màkhông cần xét đến sự cẩn trọng đã đợc tuân thủ khi thiết kế và khi vận dụng nó.Cho dù các hệ thống do con ngời có khả năng thiết kế ra là một hệ thống lý tởng, tínhhiệu quả của nó vẫn phụ thuộc vào có khả năng và tính độc lập của những ngời sửdụng nó.Ví dụ, giả sử một giấy tờ kiểm kê hàng tồn kho đợc triển khai một cáchthận trọng và qui định hai nhân viên đếm độc lập với nhau. Nếu không ai trong haingời này hiểu đợc lệnh hoặc nếu cả hai đều đặn bất cẩn khi đếm, thì con số đếm đợccủa hàng tồn kho có thể sai. Cho dù con số đếm đợc là đúng, ban Giám đốcvẫn không thể không quan tâm đến Thủ tục đó và chỉ đạo cho một nhân viên tăngcon số đếm đợc lên để nâng mức thu nhập báo cáo. Tơng tự các nhân viên có thểquyết định tăng con số đếm đợc lên một cách cố ý để che dấu việc ăn cắp hàng tồnkho do một ngời hoặc cả hai ngời đó thực hiện. Điều này đợc gọi là sự thông đồng.5Vì những hạn chế cố hữu của những quy trình kiểm soát và vì kiểm toánviên không thể có nhiều hơn sự đảm bảo hợp lý về tính hiệu qủa của các quá trìnhđó, nên hầu nh luôn luôn có một mức độ rủi ro kiểm soát. do đó, cả với hệ thốngkiểm soát nội bộ đợc thiết kế hiệu quả nhất, kiểm toán viên vẫn phải thu thập bằngchứng kiểm toán ngoài việc khảo sát các quá trình kiểm soát đối với hầu hết cácmục tiêu kiểm toán của từng tài khoản trọng yếu trên báo cáo tài chính. Nói cáchkhác, phần rủi ro kiểm soát (CR) của mô hình rủi ro kiểm toán luôn luôn lớn hơn0.1.3.4. Phơng pháp xử lý số liệu.Các khái niệm kiểm soát đợc bàn đến áp dụng tơng tự nh nhéu đối với cáchệ thống thủ công và hệ thống máy vi tính (EDP). Có một điểm khác nhéu chínhgiữa một hệ thống thủ công đơn giản ở một công ty nhỏ với hệ thống phức tạpEDP ở các Doanh nghiệp lớn. Các thử nghiệm kiểm soát không thay đổi ngay, nhng thủtục kiểm toán có khả năng thay đổi khi công việc kế toán và kiểm soát nội bộ đợc thựchiện trong môi trờng tin học hoặc thực hiện thủ công. Khi công việc kế toán vàkiểm soát nội bộ đợc thực hiện trên máy vi tính thì kiểm toán viên có thể dùngkỹ thuật kiểm toán bằng máy vi tính để thu thập bằng chứng đánh giá hiệu quả củahệ thống kiểm soát nội bộ.1.4. các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộChuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 nêu rõ: Hệ thống kiểm soát nộibao gồm các yếu tố: môi trờng kiểm soát, hệ thống kế toán và các Thủ tục kiểmsoát.1.4.1. Môi trờng kiểm soátMôi trờng kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong đơn vị và bênngoài đơn vị có tính môi trờng tác động đến việc thiết kế hoạt động và xử lý dữliệu của những loại hình kiểm toán nội bộ.Các nhân tố thuộc môi trờng kiểm soát chung chủ yếu liên quan tới quanđiểm thái độ và nhận thức cũng nh hành động của các nhà quản lý trong doanhnghiệp. Tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong vận hành của mộttổ chức phụ thuộc chủ yếu vào các nhà quản lý. Nếu các nhà quản lý cho rằngcông tác kiểm tra, kiểm soát là quan trọng và không thể thiếu đợc đối với mọi hoạtđộng thì các thành viên trong đơn vị đó sẽ có nhận thức đúng đắn về vận hànhkiểm tra, kiểm soát và tuân thủ mọi quy định cũng nh chế độ đề ra. Ngợc lại, nếuvận hành kiểm tra kiểm soát bị coi nhẹ từ phía các nhà quản lý thì chắc chắn cácqui chế về kiểm soát nội bộ sẽ không đợc hoạt động một cách có hiệu quả bởi cácthành viên của đơn vị.6Môi trờng kiểm soát có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả của các hồ sơkiểm soát. Môi trờng kiểm soát mạnh sẽ hỗ trợ một cách đáng kể cho các hồ sơ kiểm soátchi tiết. mặc khác môi trờng kiểm soát mạnh không đồng nghĩa với hệ thống kiểmsoát nội bộ mạnh. Môi trờng kiểm soát mạnh tự nó cha đủ dảm bảo tính hiệu quảcủa toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ .Các nhân tố trong môi trờng kiểm soát gồm:a) Các đặc thù về quản lý:Nhân tố này đề cập tới các quan điểm khác nhéu trong điều hành hoạt độngcông ty của các nhà quản lý. Các quan điểm đó sẽ ảnh hởng trực tiếp đếnchính sách, chế độ, các quy định và hình thức tổ chức kiểm tra, kiểm soát trongDoanh nghiệp. Bởi vì các nhà quản lý và đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao nhấtsẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và hồ sơ kiểm soát sẽ áp dụng trongcông ty.b) Cơ cấu tổ chức:Cơ cấu tổ chức đợc xây dựng hợp lý trong công ty sẽ góp phần tạo ramôi trờng kiểm soát tốt, đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dới trongviệc ban hành các quyết định, triển khai, kiểm tra, giám sát việc thực hiện cácquyết định đó trong toàn bộ Doanh nghiệp. ngoài ra, nó còn góp phần ngăn ngừacó hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót.Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toànbộ vận hành và các lĩnh vực của Doanh nghiệp sao cho không bị chồng chéo hoặcbỏ trống: thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lậptơng đối giữa các cơ quan, tạo có khả năng kiểm tra, kiểm soát lẫn nhéu trong các b-ớc thực hiện công việc. Để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả,các nhà quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:- Thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ vận hành của doanhnghiệp, không bỏ sót lĩnh vực nào, không có sự chồng chéo giữa các bộ phận.- Thực hiện sự phân chia rành mạch ba chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi chépsổ và bảo quản của cải/tài sản.- Bảo đảm sự độc lập tơng đối giữa các bộ phận nhằm đạt đợc hiệu quả caonhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng.c) Chính sách nhân sự:Đội ngũ nhân viên gắn liền với sự phát triển của Doanh nghiệp và họ là nhântố quan trọng trong môi trờng kiểm soát và là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủtục kiểm soát. Nếu nhân viên có năng lực và tin cậy, nhiều quá trình kiểm soát cóthể không cần thực hiện mà vẫn đảm bảo đợc các mục tiêu đề ra của kiểm soát nộibộ. bên cạnh đó, mặc dù công ty có thiết kế và hoạt động các chính sách vàgiấy tờ kiểm soát chặt chẽ nhng với đội ngũ nhân viên kém tiềm lực và thiếu trungthực thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy hiệu quả.7Vì những lý do nêu trên, các nhà quản lý Doanh nghiệp cần có chính sáchchi tiết và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt, khen thởng, kỷ luật nhânviên.Việc làm này phải phù hợp với tiềm lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức,cùng lúc ấy phải mang tính kế tục và liên tiếp.d) Công tác kế hoạch:Hệ thống kế hoạch và dự toán, bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, kếhoạch hay dự toán đầu t, sữa chữa tài sản cố định, đặc biệt là kế hoạch tài chínhgồm có những ớc tính cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và sự luânchuyển tiền trong tơng lai là những nhân tố quan trọng trong môi trờng kiểm soát.Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch đợc tiến hành khoa học và nghiêm túc thì hệthống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu. do đó,các nhà quản lý thờng quan tâm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõinhững nhân tố ảnh hởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện những vấn đề bất th-ờng và xử lý, điều chỉnh kịp thời. Đây cũng là khía cạnh mà kiểm toán viên thờngquan tâm trong kiểm toán báo cáo tài chính Doanh nghiệp, đặc biệt trong việc ápdụng các hồ sơ phân tích.e) Bộ phận kiểm toán nội bộKiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập đợc thiết lập trong đơn vị tiến hànhcông việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị.Theo các chuẩn mực thực hành kiểm toán nội bộ do Viện kiểm toán nội bộHoa Kỳ ban hành năm 1978, Kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độclập đợc thiết kế trong một tổ chức để kiểm tra, đánh giá các vận hành của tổchức nh là một vận hành đáp ứng cho tổ chức . Mục tiêu của kiểm toán nội bộ làgiúp đỡ các thành viên của tổ chức hoàn thành trách nhiệm của họ một cách cóhiệu quả.Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), kiểm toán nội bộ là một vận hànhđánh giá đợc lập ra trong một Doanh nghiệp nh là một loại dịch vụ cho doanhnghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá, giám sát thích hợp và hiệu quả củahệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ .Bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát đánh giá thờng xuyên vềtoàn bộ vận hành của Doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vậnhành các chính sách và hồ sơ kiểm soát nội bộ. Bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽgiúp cho công ty có đợc những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt độngtrong Doanh nghiệp, chất lợng của vận hành kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổsung các qui chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả. mặc khác, bộ phận kiểm toán nội bộchỉ phát huy công dụng nếu:- Về tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ đểkhông bị giới hạn phạm vi hoạt động, cùng lúc ấy phải đợc giao một quyền hạn tơngđối rộng rãi và vận hành tơng đối độc lập với phòng kế toán và các bộ phận hoạtđộng đợc kiểm tra.8- Về nhân sự, bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn đợc những nhân viêncó năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp với các qui định hiệnhành.f) Uỷ ban kiểm soát:Uỷ ban kiểm soát bao gồm những ngời trong bộ máy lãnh đạo cao nhất củađơn vị nh thành viên Hội đồng quản trị nhng không kiêm nhiệm chức vụ quản lývà những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. Uỷ ban kiểm soát có nhiệmvụ và quyền hạn: giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty; kiểm tra và giámsát công việc của kiểm toán viên nội bộ; giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính;dung hoà những bất đồng (nếu có) giữa ban Giám đốc với các kiểm toán viên bênngoài.g) Môi trờng bên ngoài:Các nhân tố bên ngoài tuy không phụ thuộc vào sự kiểm soát của các nhàquản lý nhng có ảnh hởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của các nhàquản lý cũng nh sự thiết kế và hoạt động các quy chế và Thủ tục kiểm soát nội bộ.Thuộc nhóm các nhân tố này bao gồm: sự kiểm soát của các cơ quan chức năngcủa Nhà nớc, ảnh hởng của các chủ nợ, môi trờng pháp lý, đờng lối phát triển củađất nớcNh vậy môi trờng kiểm soát bao gồm toàn bộ các nhân tố có ảnh hởng đến quátrình thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanhnghiệp, trong đó nhân tố chủ yếu và quan trọng là nhận thức về vận hành kiểm trakiểm soát và điều hành vận hành của các nhà quản lý.1.4.2. Hệ thống kế toánHệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán của đơn vị gồm: hệ thốngchứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảngtổng hợp, cân đối kế toán. Trong đó, quy trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vaitrò quan trọng trong công tác kiểm soát nội bộ của công ty.Mục đích của hệ thống kế toán là nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ vàbáo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức, thoả mãn chức năng thông tinvà kiểm tra của vận hành kế toán. Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảocác mục tiêu kiểm soát chi tiết sau:- Tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp vụkhông có thực vào sổ sách của đơn vị.- Sự phê chuẩn: mọi nghiệp vụ xảy ra phải đợc phê chuẩn hợp lý.- Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phátsinh.- Sự đánh giá: báo đảm không có sai phạm trong việc tính toán các khoảngiá và phí.9- Sự phân loại: bảo đảm các nghiệp vụ đợc ghi chép theo đúng sơ đồ tàikhoản và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán.- Tính đúng kỳ: bảo đảm việc ghi sổ các loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh đ-ợc thực hiện kịp thời theo qui định.- quy trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: số liệu kế toán đợc ghi vào sổphải đợc tổng cộng, chuyển sổ đúng đắn và tổng hợp chính xác.Bảy mục tiêu chi tiết của hệ thống kiểm soát nội bộ phải đợc áp dụng cho từngnghiệp vụ trọng yếu trong cuộc kiểm toán, những nghiệp vụ này gồm nghiệp vụ bánhàng, thu tiền mặt, mua hàng hoá dịch vụ, tiền lơng, Hình 1.1 trình bày các mục tiêucủa hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng cho các nghiệp vụ bán hàng.Hình 1.1: Các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ áp dụng cho các nghiệp vụ bán hàng.Các mục tiêu của kiểm soát nội bộdạng tổng quátCác mục tiêu của kiểm soát nội bộcác nghiệp vụ bán hàngCác nghiệp vụ kinh tế ghi sổ phải có căn cứ(tính có căn cứ hợp lý)Doanh thu ghi sổ là của những hàng hoá gửicho những khách hàng có thậtCác nghiệp vụ kinh tế phải đợc phê chuẩnđúng đắn (sự cho phép)Các nghiệp vụ bán hàng phải đợc phê chuẩnđúng đắnCác nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi sổ (tínhđầy đủ)Các nghiệp vụ bán hàng hiện có phải đợc ghisổCác nghiệp vụ kinh tế phải đợc đánh giá đúngđắn (sự đánh giá)Doanh thu ghi sổ là của của số tiền hàng hoáđợc gửi đi, đợc tính đúng và ghi sổ chính xácCác nghiệp vụ kinh tế phải đợc phân loại đúngđắn (sự phân loại)Các nghiệp vụ bán hàng đợc phân loại đúngđắncác loại nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi sổđúng lúc (thời gian)Doanh thu ghi sổ theo căn cứ thời gianCác nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi đúng đắnvào sổ phụ và tổng hợp chính xác (sự chuyểnsổ và sự tổng hợp)Các nghiệp vụ bán hàng phải đợc ghi đúngđắn vào sổ phụ và đợc tổng hợp chính xác1.4.3. Các Thủ tục kiểm soátThủ tục kiểm soát là các quy chế và hồ sơ do ban lãnh đạo đơn vị thiết lậpvà chỉ đạo thực hiện nhằm đạt đợc mục tiêu quản lý cụ thể.Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro kiểm soát nội bộquy định: Kiểm toán viên phải hiểu biết các Thủ tục kiểm soát của đơn vị để xâydựng kế hoạch và chơng trình kiểm toán.Các hồ sơ kiểm soát trong doanhnghiệp rất phong phú nh: lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liênquan đến đơn vị; kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán; kiểm tra chơngtrình ứng dụng vào môi trờng tin học; đối chiếu số liệu nội bộ với bên ngoài; phântích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạchCó ba nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi thiết lập các hồ sơ kiểm soát:10Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Trách nhiệm và công việc cần đợc phânchia chi tiết cho thường xuyên bộ phận và cho nhiều ngời trong bộ phận. Việc phân công phânnhiệm rõ ràng tạo ra sự chuyên môn hoá trong công việc, sai sót ít xảy ra và nếu xảy rathờng dễ phát hiện do có sự kiểm tra chéo.Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Nguyên tắc này qui định sự cách ly thích hợpvề trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn chặn các sai phạm vàhành vi lạm dụng quyền hạn. Ví dụ: trong tổ chức nhân sự không thể bố trí kiêmnhiệm các nhiệm vụ phê chuẩn và thực hiện, thực hiện và kiểm soát, ghi sổ của cải/tài sảnvà bảo quản của cải/tài sảnNguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn: Theo sự uỷ quyền của các nhà quản lý,các cấp dới đựơc giao cho quyết liệt và giải quyết một vài công việc trong phạm vinhất định. quá trình uỷ quyền tiếp tục đợc mở rộng xuống cấp các cấp thấp hơntạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mấtđi tính tập trung của Doanh nghiệp.Để tuân thủ tốt các quy trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh tế phải đợc phêchuẩn đúng đắn. Sự phê chuẩn đợc thực hiện qua hai loại, phê chuẩn chung và phêchuẩn chi tiết. Phê chuẩn là biểu hiện chi tiết của việc quyết định và giải một côngviệc trong phạm vi quyền hạn đợc giao. Nguyên tắc này yêu cầu các nghiệp vụkinh tế sinh ra đều đặn đợc uỷ quyền cho các cán bộ phê chuẩn một cách thích hợp.Trên đây là một số nguyên tắc thường nhật trong việc xây dựng các giấy tờkiểm soát. ngoài ra còn có một vài nguyên tắc khác ít đợc áp dụng hơn.Ví dụ: nguyên tắc song ký bắt buộc một vài nghiệp vụ phải có sự thoả hiệpcủa hai ngời, một ngời phê chuẩn và một ngời kiểm soát. Chẳng hạn trong nghiệpvụ chi quỹ của các xí nghiệp quốc doanh phải có hai chữ ký: một của giám đốc vàmột của kế toán trởng là kiểm soát viên nhà nớc tại đơn vị.Ngoài quan điểm truyền thống nêu trên về các yếu tố cấu thành hệ thốngkiểm soát nội bộ, còn có một số quan điểm khác trình bày theo hớng chi tiết hoátheo quan điểm truyền thống. Chẳng hạn công ty kiểm toán Cooper & Lybrandtrong tài liệu Kiểm toán nội bộ (xuất bản năm 1992) xác định 5 yếu tố cấu thànhhệ thống kiểm soát nội bộ: Môi trờng kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Các vận hànhkiểm soát; Hệ thống thông tin và truyền dẫn thông tin; Hệ thống tự giám sát củakiểm soát nội bộ.11Phần IIđánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giárủi ro kiểm soát2.1. Khái quát về quá trình thu thập hiểu biết về hệ thốngkiểm soát nội bộ2.1.1. Các lý do của việc phải hiểu biết đầy đủ hệ thống kiểm soát nội bộ đểlập kế hoạch kiểm toánTrong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá hệ thống kiểmsoát nội bộ và rủi ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữu hiệu của hệ thống kiểmsoát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bảntrên số d và nghiệp vụ của đơn vị. Kiểm toán viên phải đạt đợc một sự hiểu biết về hệthống kiểm soát nội bộ của Doanh nghiệp khách hàng theo bốn vấn đề (hình 2.1):có khả năng kiểm toán đợc. Kiểm toán viên phải thu thập thông tin về tính trungthực của ban Giám đốc với bản chất và phạm vi của sổ sách kế toán để thoả mãn làbằng chứng đầy đủ, thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số d trên báo cáotài chính .Các sai phạm nghiêm trọng tiềm tàng. Sự hiểu biết sẽ cho phép kiểm toánviên nhận diện những loại sai phạm tiềm ẩn mà có thể ảnh hởng đến các báo cáo tàichính .12Xác định liệu mức đánh giá vềrủi ro kiểm soát có được chứngminh bởi các cuộc khảo sát quátrình kiểm soát hay khôngRủi ro phát hiện. Rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủiro kiểm soát. Khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đợc đánh giá là cao thì rủi ro pháthiện có thể đợc đánh giá ở mức thấp để hạn chế rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức cóthể chấp nhận đợc. Ngợc lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đợc đánh giá là thấpthì có khả năng chấp nhận mức rủi ro phát hiện cao hơn nhng vẫn đảm bảo rủi ro kiểm toánxuống thấp đến mức có thể chấp nhận đợc.Thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ đợc dùng để đánh giá rủi ro kiểmsoát đối với từng mục tiêu kiểm soát và rủi ro kiểm soát có ảnh hởng một cách trựctiếp đến rủi ro phát hiện.Thiết kế các cuộc khảo sát. Thông tin thu đợc cho phép kiểm toán viênthiết kế các cuộc khảo sát hiệu quả về các số d trên báo cáo tài chính. Những cuộckhảo sát này gồm các cuộc khảo sát các chi tiết của nghiệp vụ kinh tế và của số dcùng các thể thức phân tích và đợc gọi là khảo sát chính thức.Hình 2.1: Khái quát về việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánhgiá rủi ro kiểm soátKhông thể kiểm toánđợc

Mọi Người Xem :   Kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục mầm non - Tài liệu text

có thể kiểm toán đợc13Đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nộibộ của khách hàng đủ để lập kế hoạch chocuộc kiểm toán các báo cáo tài chínhĐánh giá liệu các báocáo tài chính có thể kiểmtoán được hay khôngí kiến từchối hoặcrút ra khỏihợp đồngĐánh giá mức độ của rủi ro kiểm soát từ sự hiểubiết đạt đợc (đánh giá ban đầu) và chi phí của việckhảo sát các quy trình kiểm soát thích hợpĐánh giá xem liệu có thể mức độ của rủi rokiểm soát thấp hơn sẽ đợc chứng minh hay không,và chi phí để có đợc sự chứng minh đóquyết định về mức đánhgiá thích hợp của rủi rokiểm soát phải dùng(1) Mức tối đa

(2) Mức đợc chứng minhbằng sự hiểu biết có đợc(3) Mức thấp hơn có thểchứng minh đợcMở rộng sự hiểu biết nếucần thiếtLập kế hoạch và thực hiện cáckhảo sát quá trình kiểm soátXác định liệu mức đánh giá vềrủi ro kiểm soát có được chứngminh bởi các cuộc khảo sát quátrình kiểm soát hay khôngKhông chứng minh

Chứng minhChứng minhChứng minh

2.1.2. Hiểu biết về cách thiết kế và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.tìm hiểu thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ đợc thực hiện trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán. Từng yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ phải đợc thống kêvà hiểu rõ. Kiểm toán viên phải xem xét hai khía cạnh: (1) thiết kế các chế độ vàthể thức khác nhéu trong từng yếu tố của hệ thống kiểm soát, và (2) liệu chúng cóđợc đa vào trong qúa trình vận hành hay không. Điều này giúp cho kiểm toánviên xác định đợc khối lợng các nghiệp vụ kinh tế tài chính cần đợc kiểm tra cũngnh việc thiết lập các giấy tờ kiểm tra cần thiết.Hiểu biết về môi trờng kiểm soát.Kiểm toán viên sử dụng hiểu biết nh một căn cứ để đánh giá thái độ và nhậnthức của Ban giám đốc đối với tầm quan trọng của kiểm soát.Ví dụ, kiểm toán viên có thể xác định bản chất của hệ thống dự toán của

Mọi Người Xem :   TOP 20 Món Quà Tặng Sinh Nhật Ý Nghĩa Cho Bạn Trai - PNJ Blog

khách hàng nh một phần của việc hiểu biết về thiết kế môi trờng kiểm soát. Hoạtđộng của hệ thống dự toán khi đó có khả năng đợc đánh giá một phần bằng cách thẩmvấn các nhân viên dự toán để xác định các thể thức dự toán và theo dõi các chênh14Hình 2.2: Hiểu biết về cách thiết kế và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộHiểu biết về môitrờng kiểm soátHiểu biết về hệthống kế toánHiểu biết về cácThủ tục kiểm soátThiếtkếHoạtđộngThiếtkếHoạtđộngThiếtkếHoạtđộngXác định liệu mức đánh giá vềrủi ro kiểm soát có được chứngminh bởi các cuộc khảo sát quátrình kiểm soát hay khôngquyết liệt về rủi ro phát hiện tăng lênthích hợp và lập kế hoạch các cuộckhảo sát chính thức để thoả mãn mứcrủi ro phát hiện tăng lên nàyquyết định về rủi ro phát hiện gắn liềnvới mức tối đa của rủi ro kiểm soát caohơn mức kế hoạch ban đầu và lập kếhoạch các cuộc khảo sát chính thức đểthoả mãn rủi ro phát hiệnlệch giữa dự toán với thực tế. Kiểm toán viên cũng có khả năng xem xét các bảng liệt kêcủa khách hàng có so sánh kết quả thực tế với dự toán.Hiểu biết về hệ thống kế toán.Kiểm toán viên phải hiểu biết về hệ thống kế toán và việc thực hiện côngviệc kế toán của đơn vị để xác định đợc:- những loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu;- Nguồn gốc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu;- Tổ chức bộ máy kế toán;- Tổ chức công việc kế toán, gồm: Hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản kếtoán, sổ kế toán và hệ thống báo cáo tài chính;- quy trình kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu và các sự kiện từ khi phátsinh đến khi lập và trình bày báo cáo tài chính.Thông thờng, điều này đợc hoàn thành và chứng minh bằng sự mô tả liệt kêhệ thống hoặc bằng sơ đồ thể hiện sự phát triển của hệ thống qua các giai đoạn.vận hành của hệ thống kế toán thờng đợc xác định bằng cách theo dõi một hoặcmột vài nghiệp vụ kinh tế xuyên suốt hệ thống kế toán (đợc gọi là nghiệp vụ kinhtế xuyên suốt).Hiểu biết về các giấy tờ kiểm soát.Các kiểm toán viên có đợc hiểu biết về môi trờng kiểm soát và về hệ thốngkế toán theo một cách tơng tự nh nhau ở hầu hết các cuộc kiểm toán, nhng việc cóđợc một sự hiểu biết về các Thủ tục kiểm soát thì lại khác nhéu đáng kể. Đối vớinhững khách hàng có quy mô nhỏ hơn thì thờng chỉ nhận diện đợc rất ít hoặc thậmchí không có thể thức kiểm soát nào cả vì quy trình kiểm soát thờng không có hiệuquả do số lợng nhân viên hạn chế. Trong trờng hợp đó, mức đánh giá cao của rủiro kiểm soát đợc dùng. những khách hàng có các quy trình kiểm soát sâurộng và kiểm toán viên tin tởng là những quy trình kiểm soát đó có khả năng tuyệtvời thì việc nhận diện đợc rất nhiều quá trình kiểm soát trong suốt giai đọan tìmhiểu các quá trình kiểm soát là điều thích hợp. các cuộc kiểm toán khác, kiểmtoán viên vẫn có thể nhận diện một vài lợng quá trình kiểm soát giới hạn trong giaiđọan này rồi sau đó nhận diện thêm các quy trình kiểm soát khác khi công việcđang tiến triển. Mức độ mà theo đó các quy trình kiểm soát đợc nhận diện là mộtvấn đề thuộc về sự phán xét kiểm toán.2.1.3. Đánh giá và quyết liệt.Khi đã đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ, và đủ cho việc lậpkế hoạch kiểm toán, thì có ba đánh giá đặc thù phải đợc thực hiện. Nh ta thấy trênhình 2.1, chúng cũng đòi hỏi kiểm toán viên phải đề ra một vài quyết định nhấtđịnh.Đánh giá liệu các báo cáo tài chính có kiểm toán đợc hay không: Quátrình đánh giá đầu tiên là đánh giá liệu Doanh nghiệp đó có khả năng kiểm toán đợc hay15không. Hai yếu tố chính xác định khả năng có thể kiểm toán đợc là tính liêm chínhcủa ban Giám đốc và tính đầy đủ của sổ sách kế toán. Rất nhiều thể thức kiểmtoán trên chừng mực nào đó dựa vào các kiến nghị của ban Giám đốc.Ví dụ, đối với kiểm toán viên, sẽ rất khó để đánh giá liệu hàng tồn kho cólạc hậu hay không nếu không có sự đánh giá trung thực của ban Giám đốc. Nếuban Giám đốc thiếu tính trung thực, ban Giám đốc có khả năng cung cấp những ý kiếngian dối khiến cho kiểm toán viên phải dựa vào bằng chứng không đáng tin cậy.Sổ sách kế toán có vai trò nh một nguồn trực tiếp của bằng chứng kiểm toáncần thiết. Ví dụ, nếu khách hàng không lu giữ bản sao các hóa đơn bán hàng vàhoá đơn của bên bán thì thông thờng không thể thực hiện cuộc kiểm toán trừ phikiểm toán viên có khả năng nhận diện đợc một nguồn thay thế của bằng chứng đáng tincậy, hoặc trừ phi sổ sách thích hợp thể đợc xây dựng cho mong muốn dùng củakiểm toán viên, thì cách duy nhất là cho rằng công ty không thể kiểm toán đợc.Khi kết luận là công ty không thể kiểm toán đợc, kiểm toán viên sẽ tranhluận về các tình huống với khách hàng (thờng ở cấp cao nhất) và hoặc rút lui khỏihợp đồng, hoặc công bố một báo cáo kiểm toán từ chối.Đánh giá mức độ của rủi ro kiểm soát dựa trên sự hiểu biết đã thu thập đ-ợc: Sau khi thu đợc một sự hiểu biết về cách thiết kế và vận hành của hệ thốngkiểm soát, kiểm toán viên thực hiện một ớc lợng ban đầu về rủi ro kiểm toán chotừng mục tiêu kiểm soát chi tiết. Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát bao gồmviệc đánh giá tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn ngừa,phát hiện và sửa chữa các sai phạm trong hoạt động tài chính kế toán của doanhnghiệp.Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và kiểm soátnội bộ, sau khi hiểu đợc hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ, kiểm toán viênphải thực hiện đánh gía ban đầu về rủi ro kiểm soát theo các cơ sở dẫn liệu cho sốd của mỗi tài khoản trọng yếu.Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ đợc thiết kế và hoạt động hữu hiệu thì rủi rokiểm soát đợc đánh giá thấp và ngợc lại. Công việc này đợc làm riêng rẽ cho từngloại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu trong từng chu trình nghiệp vụ. Ví dụ, kiểm toánviên thực hiện một quá trình đánh giá mục tiêu có căn cứ hợp lý cho doanh số vàmột quá trình đánh giá riêng cho mục tiêu tính đầy đủ. Có nhiều cách khác nhéuđể diễn tả mức rủi ro này. một số kiểm toán viên dùng cách diễn đạt chủ quannh cao, trung bình hoặc thấp. một vài khác sử dụng các xác suất bằng số nh 100%,60% hoặc 20%.quá trình đánh giá ban đầu thờng bắt đầu bằng việc xem xét môi trờngkiểm soát. Nếu thái độ của ban Giám đốc cho rằng quá trình kiểm soát là khôngquan trọng thì độ tin cậy của các thể thức kiểm soát chi tiết rất đáng nghi ngờ.Cách hấp dẫn nhất là kiểm toán viên giả sử rủi ro kiểm soát của tất cả các mục tiêu đềuở mức cao nhất (Ví dụ 100%). Ngợc lại, nếu thái độ của ban Giám đốc là tích cực,16

Mọi Người Xem :   Thức ăn chăn nuôi vịt


Các câu hỏi về ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán


Các hình ảnh về ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tìm thêm kiến thức về ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán tại WikiPedia

Bạn nên tham khảo nội dung về ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm toán từ trang Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://khoalichsu.edu.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://khoalichsu.edu.vn/hoi-dap/

Related Posts

About The Author

Add Comment