Đề tài: Đánh giá tác động tiềm ẩn của sự phát triển trên lưu vực sông Mê Kông đối với Việt Nam và các giải pháp ưu tiên

Bài viết Đề tài: Đánh giá tác động tiềm ẩn của sự phát triển trên lưu vực sông Mê Kông đối với Việt Nam và các giải pháp ưu tiên thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Khoa Lịch Sử tìm hiểu Đề tài: Đánh giá tác động tiềm ẩn của sự phát triển trên lưu vực sông Mê Kông đối với Việt Nam và các giải pháp ưu tiên trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung : “Đề tài: Đánh giá tác động tiềm ẩn của sự phát triển trên lưu vực sông Mê Kông đối với Việt Nam và các giải pháp ưu tiên”

Đánh giá về Đề tài: Đánh giá tác động tiềm ẩn của sự phát triển trên lưu vực sông Mê Kông đối với Việt Nam và các giải pháp ưu tiên


Xem nhanh
Thủy trình của dòng sông.
Sông Mekong sau khi vượt qua lãnh thổ Trung Quốc tiếp tục chảy qua nhiều vùng đồi núi và chủ yếu chỉ có 1 dòng chính, cứ như vậy băng qua biên giới Thái Lào và đổ vào Campuchia. Khi tới Phnom Penh chúng ta mới thấy sự phân nhánh rõ rệt đầu tiên. Vì thế Phnom Penh được gọi là thành phố Ngã tư sông. Ngã tư Phnom Pênh chứng kiến một chế độ thủy văn phức tạp. Chúng ta thấy ở đây, dòng sông được đánh dấu màu tím là sông Tole Sap, sông sẽ thay đổi hướng chảy sáu tháng một lần, vào mùa mưa sông chảy theo hướng Đông Nam Tây Bắc và hình thành một túi nước lớn xung quanh biển hồ Tole Sap, vào mùa khô lượng nước trên lại đổ ngược lại về sông Mekong. Từ điểm này hình thành nên hai nhánh chảy theo hướng nam đông nam tiến về biên giới Việt Nam. Nhánh lớn hơn phía trên tiếp tục mang tên sông Mekong, nhánh nhỏ hơn có tên bassac. Khi vào địa phận Việt Nam sông tiếp tục đổi thành hướng Đông Nam chảy ra biển đông qua 9 cửa. Lúc này sông có tên mới là sông Cửu Long với hai nhánh lớn là sông Tiền và Sông Hậu.
Theo những lược đồ xưa cũng như bản đồ được in trong Atlas địa lý Việt Nam, sông cửu long gồm 9 cửa từ trên xuống dưới như sau cửa Tiểu Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Bát Xắc và Tranh Đề. Chúng ta sẽ còn bàn về tên gọi ở trong phần chi tiết.
Tôi đã nghiên cứu một hướng đi để làm sao chúng ta dễ tìm hiểu nhất nên tôi quyết định đi từ các cửa Sông Hậu ngược lên sông Tiền. Sông Hậu càng phía hạ nguồn càng mở rộng tuy nhiên không có sự phân nhánh rõ rệt ngoại trừ hình thành nên các cù lao trên hành trình của mình. Từ đây sông chia làm hai dòng nhỏ đều mang tên sông Hậu. Theo bản đồ Nam Kỳ năm 1878 của Pháp chúng ta thấy khu vực này có ba cửa từ dưới lên là Trần Đề, Ba Thắc hoặc bassac và Định An. Trong dân gian nhiều khi người ta gọi sông hậu là Bắt Xắc vậy mới có câu hát là Em về đi qua bến Bắc, Nhớ dòng sông sâu bát sắc. Làng em chất phát thật thà. Đây là sông Bắc Xắc và đây bến Bắc Đại Ngãi. Bắc là phà trong phương ngữ Nam Bộ. Đại Ngãi (huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng) cùng với Cầu Quan (huyện Tiểu Cần tỉnh Trà Vinh) là hai điểm dân cư lớn nằm ở hai bên bờ sông này. Đây là nhánh sông trước khi đổ ra cửa Trần Đề, hay Tranh Đề đây là một trong những cửa lớn của sông cửu long. Theo PGS.TS Lê Trung Hoa tên cửa này có nhiều dị biệt là do sai sót trong in ấn ban đầu tên là Trấn Di sau bị in sai lạc thành Trần Đề và Tranh Đề. Lật lại lịch sử năm 1739, từ Hà Tiên nhà mạc tiến về phía sông Hậu, lập thêm bốn đạo, đặt tên là Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang và Trấn Di. Trong đó, Trấn Di thuộc đất Bassac, nguyên chữ Hán là 鎮夷. Do các sách in thời Nguyễn sắp chữ in nhầm thành 塡荑, vừa đọc là trấn di vừa đọc là trần đề do hiện tượng đồng âm trong chữ hán. Khi người Pháp đến Việt Nam ghi âm theo cách đọc của họ, trại ra thành Tranh Đề hay Trần Đề. Hiện nay tôi không biết chính xác tên gọi của cửa này là gì. Nhưng bờ đông cửa này là xã An Thạnh Nam huyện Cù Lao Dung và bờ Tây là thị trấn Trần Đề huyện Trần Đề cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng
Phần này nói nhiều quá, thôi, Tiếp theo chúng ta đến cửa Định An, đây là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng. Càng về cuối nguồn thì sóng càng lớn do ảnh hưởng mạnh của thủy triều và gió biển. Thời tiết lúc này cũng khá là xấu. Định An được đặt tên theo một điểm dân cư ở bờ phía bắc cửa sông này, không biết tên cửa sông có trước hay điểm dân cư này có trước. Định An hiện nay là một thị trấn nhỏ thuộc huyện Trà Cú, là một trung tâm nghề cá của tỉnh Trà Vinh.
Các bạn có để ý chúng ta đã bỏ sót 1 cửa hay không, đó là cửa Ba Thắc hay Bassac. Rõ ràng chúng ta thấy bản đồ năm 1878 thì họ vẽ cửa sông này rất rộng, rộng hơn hai cửa Trần Đề và Định An. Của Ba Thắc chia cù lao dung thành hai phần. Tuy nhiên dấu tích của cửa này gần như bằng 0, ở đây người dân nuôi tôm trồng sả và các loại cây chịu hạn hình thành nên những cánh đông liền mạch, trên thực tế không thể tìm thấy cửa sông này. Ở đây chúng ta xem qua bản đồ vệ tinh phía Đông của huyện Cù Lao Dung không hề có một cửa nào ở đây. cửa sông Ba Thắc trong truyền thuyết. Đây là hiện tượng biến đổi dòng chảy khá phổ biến trong quá trình vận động của các dòng sông trên thế giới. Ở đây có thể dòng sông ở giữa hai dòng lớn hơn nên tốc độ dòng chảy chậm dẫn đến lắng động phù sa hàng trăm năm ở khu vực cửa sông làm dòng sông lệch hướng chảy về phía Nam. Tuy nhiên điều này cần những nghiên cứu bài bản.
Tiếp theo ngược lên hai cửa Cung Hầu và Cổ Chiên. Ở đây là thị xã Duyên Hải của tỉnh Trà Vinh bên kia là huyện Thạnh Phú của tỉnh Bến Tre. Trong lúc này trời chuyển tối và mưa bão chúng ta đợi xíu. Trong lúc đợi sáng và trời chuyển tốt lên chúng ta cùng xem hành trình hình thành nên hai cửa sông này. Khi sông tiền chảy qua một khu vực khá hẹp mà người ta chọn làm nơi xây cầu Mỹ Thuận thì dòng sông dần phân thành hai nhánh và ôm lấy cù lao An Bình. Một nhánh gần như chảy theo hướng Đông tiếp tục mang tên sông Tiền, nhánh còn lại chảy theo hướng Đông Nam tiến về phía biển. sông Cổ Chiên.

Bối cảnh phát triển lưu vực sông Mê Kông
và giải pháp ứng phó c ho Việt Nam

Trịnh Lê Nguyên và Trần Thị Thanh Thủy 1

Dòng sông Mê Kông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng nối liền 6 quốc gia Trung Quốc,
Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam. Với khoả ng 4.800km chiều dài, con
sông quốc tế này tạo ra thường xuyên sinh cảnh độc đáo, các hệ sinh thái giàu có và thường xuyên vùng
châu thổ phì nhiêu. Cho đến cuối thế kỷ 20, sông Mê Kông vẫn còn giữ được nhiều nét
nguyên vẹn do chưa bị ngăn đập trên phần lớn dòng chảy.

Tuy nhiên, lưu vực sông Mê Kông trong thời gian gần đây trở nên ngày càng sôi động
với nhiều diễn biến phát triển nóng gây ra không ít tranh cãi. Dòng sông quốc tế này đang
chứng kiến xu thế cạnh tranh với tâm điểm là việc sử dụng nguồn nước của mỗi quốc gia
phục vụ nhu cầu phát triển của riêng mình đi đôi với những hậu quả và thách thức tiềm
tàng cho các quốc gia khác.

Ở vị thế là một quốc gia cuối nguồn, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phải gánh chịu
nhiều tác động to lớn chưa thể lường trước từ các chươn g trình, dự án phát triển trên dòng
chính ở phía thượng nguồn. Với viễn cảnh các kịch bản phát triển của các quốc gia láng
giềng, Việt Nam rất cần có các giải pháp ứng phó và Giảm tối đa nguy cơ trở thành nạn
nhân của những tính toán, sắp đặt trái với t inh thần hợp tác phát triển trong lưu vực.

Box:
Tầm nhìn của lưu vực sông Mê K ông: Một lưu vực sông Mê hông thịnh vượng về
kinh tế, công bằng về xã hội và đúng mực về môi trường. ( Tuyên bố của Hội n ghị Cấp
cao của Uỷ hội sông Mê K ông quốc tế lần thứ nhấ t vào tháng 4 năm 2010 tại Hủa Hỉn,
Thái Lan ).

Bối cảnh p hát triển lưu vực sông Mê Kông
Sự sôi động của lưu vực sông Mê Kông bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ 20. Các nền
kinh tế mới nổi trong khu vực và một Trung Quốc đang trỗi dậy đứng trước cơn khát
nă ng lượng phục vụ nhu cầu tăng trưởng nóng. Thủy điện trở thành tâm điểm của các
chiến lược đầu tư mới của cả chính phủ và khu vực tư nhân. bên cạnh đó, gia tăng dân số
trong lưu vực và biến động giá cả lương thực trong những năm gần đây đã đẩy nhanh các
quố c gia đầu tư mạnh mẽ hơn cho cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển và mở rộng sản xuất
nông nghiệp.

Trung Quốc là quốc gia đầu tiên đặt dấu chấm hết cho sự nguyên vẹn của con sông Mê
Kông với kế hoạch xây dựng ít nhất 7 đập thủy điện trên dòng chính phía thư ợng nguồn
từ c uối những năm 1990 . Cho đến nay, họ đã hoàn thành và đưa vào vận hành 4 đập là
Mãn Loan (Manwan), Đại Chiếu Sơn (Dachaoshan), Cảnh Hồng (Jinghong) và Tiểu
Loan (Xiaowan). Năm 2014, con đập tiếp theo là Nọa Trát Độ (Nuozhadu) dự kiến sẽ
được h oàn thiện. Lào và Căm -puchia cũng bắt đầu l ên kế hoạch xây dựng 12 đập trên
1 Trung tâm Con người và Thiên nhiên

dòng chính trong khoảng thời gian này . mặt khác, hệ thống c ác dòng nhánh của sông Mê
Kông cũng đã và đang được khai thác cho thủy điện. Dự tính đến năm 2015 sẽ có 36 đập
ở các dòng nhánh được đưa vào vận hành và tới năm 2030 sẽ còn có thêm 30 đập thủy
điện nữa được triển khai trên các dòng nhánh 1.

Ở phía hạ nguồn, Lào là quốc gia đầu tiên trong 4 thành viên của Ủy hội sông Mê Kông
quốc tế thông báo kế hoạch xây đập thủy điện dòng chính. Dự án đập Xayabury đư ợc
Chính phủ Lào thông báo lên Ủy hội sông Mê Kông quốc tế vào tháng 9/2010 đã vấp
phả i thường xuyên phản đối từ thường xuyên phía do lo ngại về tác động tiềm tàng lên con người và hệ
sinh thái. Mới đây, Lào tiếp tục thông báo kế hoạch triển khai tiếp hai dự án thủy điệ n
trên dòng chính sông Mê Kông là đập Don Sahong và đập Pak Beng. Trong những tuyên
bố của mình, Chính phủ Lào không dấu giếm tham vọng biến quốc gia này nguồn cung
năng lượng cho khu vực.

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược thủy điện dòng chính Mê Kô ng do Trung tâm
Quản lý Môi trường Quốc tế (ICEM) thực hiện cho Ủy hội sông Mê Kông năm 2010
đánh giá Việt Nam “có khả năng tổn thất lớn nhất về kinh tế” 2 do tác động tiềm tàng nếu
hệ thống đập dòng chính được xây dựng. Những tổn thất Việt Nam c ó thể gánh chịu chưa
thể tính toán hết. Tuy nhiên, một số tác động có thể dự đoán được bao gồm: (i) hạn chế
dòng chảy trong mùa khô, kết hợp với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
sẽ làm gia tăng nhập mặn, ảnh hưởng đến nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ở Đồng
bằng sông Cửu Long; (ii) suy hạn chế lượng phù sa bồi đắp cho đồng bằng từ 26 triệu
tấn/năm hiện nay xuống 7 triệu tấn/năm; (iii) thủy sản biển, nước ngọt và nuôi trồng đều đặn
sẽ bị ảnh hưởng với ước tính tổn thất ít nhất từ 500 triệu đến 1 tỉ U SD mỗi năm 3.

Nghiên cứu công bố năm 2011 của Viện Giải pháp Bền vững thuộc Đ ại học Portland
(Mỹ) phối hợp với Đại học Mae Fah Luang (Thái Lan) thực hiện cho thấy rằng trong tất cả các
kịch bản phát triển, Lào luôn ở vị thế hưởng lợi lớn nhất, còn các quốc gia khác trong lưu
vực hạ Mê Kông là bên bị thiệt hại 4.

Bên cạnh thủy điện, các quốc gia trong lưu vực cũng đang có các kế hoạch dùng nước
sông Mê Kông trên quy mô lớn. Lào dự định tăng diện tích tưới tiêu vào mùa khô từ
100.000 hecta/năm lên 300.000 hecta/năm trong vòng 20 năm tới. Cambodia cũng có
tham vọng mở rộng sản xuất lúa và cần mở rộng diện tích tưới. Thái Lan đã có kế hoạch
từ khá lâu với tham vọng chuyển nước từ dòng chính để hạn chế hạn hán ở khu vực Đông
Bắc. Các hoạt động kinh tế khác khai thác lợi thế của sông Mê Kông bao gồm phát triển
nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, quản lý lũ lụt và du lịch 5.

Các dự án chuyển nước của các quốc gia thượng lưu kết hợp với sự hoạt động của đập
thủy điện sẽ làm gia tăng sự thiếu hụt nguồn nước ở các quốc gia hạ lưu, trong đó Việt
Nam nằm cuối cùng hạ lưu sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Thêm vào đó, khi thiếu nguồn
nước từ sông Mê Kông đổ về sẽ tạo điều kiện cho xâm nhập mặn từ biển Đông lấn sâu
vào đất liền. Thời gian xâm nhập mặn sẽ đến sớm hơn và kéo dài hơn vào mùa khô khi
nguồn nước sông Mê Kông đến khu vực hạ lưu bị suy giảm.

Việt Nam và huyết mạch Mê Kông

Phần lãnh thổ Việt Nam nằm trong lưu vực Mê Kông chiếm khoảng 8% diện tích lưu vực
và đóng góp khoảng 11 % tổng lượng nước. Phần lãnh thổ này bao gồm thượng nguồn
sông Nậm Rốn (Điện Biên), thượng nguồn sông Sê Kông và Sê Ba Hiêng, lưu vực sông
Sê San và Srepok và khu vực ĐBSCL .

Việt Nam có hơn 20 triệu người dân sống trong lưu vực sông Mê Kông ( hơn 17 triệu ở
ĐBSCL và 3 triệu ở Tây Nguyên). Phần lớn dân số phụ thuộc vào nguồn sinh kế nông
nghiệp và thủy sản – liên quan mật thiết đến nguồn tài nguyên nước. Ngu ồn lợi từ sông
Mê Kông và các dòng nhánh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người nghèo , 75%
trong số họ sống phụ thuộc vào sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản .

Khu vực ĐBSCL có diện tích tự nhiên 3,9 triệu hecta, trong đó 75% đã được sử dụng cho
sản xuất nông nghiệp. Ngoài chức năng là vựa lúa của cả nước, khu vực này cũng là vùng
nuôi trồng thủy sản lớn nhất Việt Nam với 71% diện tích nuôi, 72% sản lượng và 75%
tổng giá trị xuất khẩu thủy sản 5. ĐBSCL đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đảm bảo
an ninh lương thực và tăng trưởng kinh tế cho cả nước.

ĐBSCL chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ nguồn nước sông Mê Kông, trong đó lũ là yếu tố quan
trọng nhất. Mỗi năm, khu vực này có từ 1,3 -1,5 triệu hecta bị ngập lũ. Dưới tác động của
dòng chảy và chế độ lũ, các vận hành kinh tế – xã hội bị tác động, đất nông nghiệp bị
xâm nhập mặn và chua phèn, các hoạt động sản xuất nông nghiệp bị cản trở. Bên cạnh
đó, lũ cũng có thường xuyên mặt tích cực đối với sự hình thành và phát triển của ĐBSCL. Con
sông Mê Kông mang về cho đồng bằng nguồn phù sa màu mỡ và nguồn thủy sản tự nhiên
giàu có.

Tại khu vực Tây Nguyên, nguồn nước của lưu vực sông Sê San và Srêpok đã được khai
thác khá triệt để phục vụ cấp nước cho sản xuất nông n ghiệp , sinh hoạt và phát triển thủy
điện. Trong trường hợp lưu vực sông Sê San và Srêpok, Việt Nam ở vị thế thượng nguồn.
Các hoạt động khai thác, dùng nguồn nước ở các lưu vực sông này có thể gây tác động
xuyên biên giới đến quốc gia hạ nguồn là Cambod ia.

Dòng chảy của con sông Mê Kông có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của khu vực
ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung. Do sự liên quan mật thiết giữ các điều kiện tự
nhiên và kinh tế – xã hội của các tiểu vùng và tổng thể lưu vực sông Mê Kông, n hững
động thái phát triển thượng nguồn và thay đổi dòng dảy sẽ dẫn đến nhiều tác động về môi
trường và xã hội ở phía hạ nguồn. Một khi con đập đầu tiên trong chuỗi 12 dự án đề xuất
được xây dựng sẽ kéo theo hiệu ứng domino kéo theo toàn bộ dòng chính phía h ạ lưu sẽ bị
thay đổi hoàn toàn. Mặc dù còn cần rất nhiều đánh giá, thống kê thấu đáo về tác động
tổng thể của kịch bản phát triển này, với những hiểu biết ở thời điểm hiện tại 6, có thể
khẳng định rằng Việt Nam gặp rất nhiều bất lợi trong bài toán phát triển sông Mê Kông.

Ứng phó với các kịch bản phát triển lưu vực

Diễn biến phát triển lưu vực sông Mê Kông trong thời gian vừa qua cho thấy rằng đây không
đơn thuần là bài toán đánh đổi giữa lợi ích kinh tế và môi trường – xã hội. Ngoạ i trừ
Trung Quốc ở phía thượng nguồn, Lào đang nổi lên là quốc gia có vị thế địa chính trị đặc
biệt, có tính then chốt đối với toàn cục phát triển lưu vực. Trong chuỗi domino 12 con
đập trên dòng chính (và cả các dự án chuyển nước phục vụ nông nghiệp), một khi con
đập đầu tiên được xây dựng sẽ kích hoạt toàn bộ các dự án khác. Việt Nam sẽ phải hứng
chịu hậu quả và ảnh hưởng tích lũy của toàn bộ hệ thống các dự án phát triển này. Mặc dù
các quốc gia thành viên Ủy hội sông Mê Kông đã nhất trí hợp tác với tinh thần “phục vụ
nhu cầu, giữ sự cân bằng để hướng tới sự phát triển bền vững của lưu vực sông Mê
Kông” (Tuyên bố Hủa Hỉn 2010), những động thái gần đây ở phía th ượng nguồn cho thấy
thực tế còn rất nhiều thách thức khi mà mỗi bên đều đặn chỉ cố gắng bảo vệ quyền lợi riêng
của mình. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần sẵn sàng cho mọi kịch bản phát triển lưu vực
khi mà chúng ta không có nhiều lựa chọn do ở vị trí cuối nguồn.

Trên cơ sở nhận định tình hình khu vực và bối cảnh hiện tạo, Chúng Tôi cho rằng các giải
pháp ứng phó của Việt Nam có khả năng thực hiện bao gồm:

Một là , duy trì và tăng cường hợp tác Mê Kông thông qua Ủy hội sông Mê Kông quốc tế.
Cho đến Hiện tại, khuôn khổ hợp tác quốc tế hấp dẫn nhất để trao đổi, đàm phán và tìm kiếm
sự đồng thuận trong vấn đề phát tr iển lưu vực là thông qua Hiệp định về hợp tác phát
triển bền vững lưu vực sông Mê Kông ( Hiệp định 1995 ). Việt Nam cần tích cực thúc đẩy
tăng cường sức mạnh của Ủy hội và các cơ chế của Ủy hội trên cơ sở hợp tác với các
quốc gia thành viên, các đối tác phát triển và các nhà tài trợ .

Hai là , đầu tư cải thiện tiềm lực tổ chức cho Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam với đầy đủ
nguồn lực để thực hiện các chương trình, dự án thống kê, giám sát tác động, tìm kiếm
giải pháp nhằm tham vấn kịp thời cho Chính phủ trong hoạch định chính sách và hợp tác
với các quốc gia trong lưu vực .

Ba là , tích cực tạo sự đ ồng thuận trong việc định hướng mô hình phát triển của lưu vực
Mê Kông và trong cộng đồn g ASEAN. Theo đó, cần hướng đến mô hình phát triển hạn chế
thiểu phát thải, Giảm thiểu tiêu thụ năng lượng, sử dụng khôn khéo tài nguyên thiên
nhiên . Trong định hướng xây dựng cộng đồng chung ASEAN, Việt Nam nên ủng hộ
quan điểm bổ sung trụ cột môi trường bên cạnh ba trụ cột Hiện tại là kinh tế, an ninh và
văn hóa – xã hội.

Bốn là , khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong
nghiên cứu, phổ biến thông tin, thúc đẩy hợp tác, đối thoại ở cấp quốc gia và khu vực
nhằm tạo sự ủng hộ, đồng thuận của xã hội trong bảo vệ lợi ích chung của người dân
trong lưu vực nói chung và Việt Nam nói riêng.

Năm là , tăng cường h ợp tác với cộng đồng các nhà tài trợ và đối tác phát triển của Lào và
Cambodia nhằm hỗ trợ nước bạn tìm kiếm các giả i pháp phát triển tối ưu, bền vững, phù
hợp với tinh thần hợp tác giữa các quốc gia trong lưu vực. Với kinh nghiệm về tăng
trưởng kinh tế và xóa đói Giảm nghèo đã được công nhận, Việt Nam có khả năng giúp các nước

bạn sử dụng nguồn lực quốc tế một cách hiệu quả , áp dụng cách mô hình tốt và tránh
những hậu quả tiêu cực có khả năng vấp phải trong quy trình phát triển.

Sáu là , sử dụng một cách hiệu quả các c ông cụ đầu tư và hỗ trợ phát triển để đáp ứng mục
tiêu các bên đều đặn có lợi. Chúng tôi cho rằng đây là giải pháp q uan trọng nhưng hiện nay
chưa được quan tâm một cách đúng mức. Phần cuối của bài viết này sẽ đi sâu vào bàn
luận về hướng ứng phó này.

sử dụng hợp lý công cụ đ ầu tư và hỗ trợ phát triển

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa, Việt Nam không chỉ là một điểm đến
của các nhà đầu tư quốc tế mà còn là một nhà đầu tư ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.
Bên cạnh nguồn đầu tư trực tiếp của các công ty, Việt Nam cũng tích cực cung cấp
hỗ trợ phát triển cho một số quốc gia.

Đầu tư của Việt Nam ra n ước ngoài chủ yếu tập trung ở khu vực Mê Kông. Cho đến hết
tháng 9/2012, tổng đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Lào là gần 3,8 tỉ đô -la với 221 dự
án; gần 2,57 tỉ đô -la với 123 dự án vào Cambodia 7. Hai quốc gia này chiếm tỉ trọng gần
50% trong tổng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam. Trong những năm vừa qua,
Việt Nam l uôn nằm trong top đầu trong danh sách các nhà đầu tư vào hai quốc gia này.
Theo nghiên cứu của Hiệp hội các nhà đầu tư sang Myanmar, đến cuối năm 2011, Việt Nam
có 14 dự án đang trong quá trình nghiên cứu, nộp giấy tờ xin phép đầu tư hoặc các ý tưởng đầu
tư được cô ng bố, triển khai với tổng giá trị ghi nhớ là 580 triệu USD 8.


Nguồn số liệu: Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Trong cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài, các lĩnh vực liên quan đến tài nguyên thiên
nhiên (khai khoáng, thủy điện, khai thác lâm sản, nông lâm nghiệp) chiếm tỉ trọng lớn.
Điều n ày đặt ra một số thách thức và có nguy cơ ảnh hưởng đến nỗ lực đàm phán về phát
triển bền vững sông Mê Kông khi chính các công ty Việt Nam có khả năng tạo ra những
tác động tiêu cực lên lưu vực trong quy trình đầu tư của mình.

Câu hỏi đặt ra là liệu doanh nghiệ p có thể vừa đảm bảo mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, vừa
có khả năng tạo hiệu ứng tích cực để cải thiện hình ảnh và vị thế của Việt Nam như một quốc
gia có trách nhiệm trong vấn đề phát triển lưu vực sông Mê Kông hay không? Ở đây đòi
hỏi có sự nỗ lực của cả hai phí a doanh nghiệp và Chính phủ. Với vị trí nhà đầu tư, các
công ty Việt Nam nên tìm hiểu và áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong quá trình
triển khai các hoạt động dự án của mình ở các nước bạn nhằm Giảm thiểu các hệ quả môi
trường – xã hội . Về phía Chính phủ , cần có các công cụ quản lý hữu hiệu, đảm bảo giám
sát các dòng đầu tư để không bị ảnh hưởng uy tín quốc gia do hoạt động của doanh
nghiệp. bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích để các công ty áp dụng các chuẩn
mực tốt trong đầu tư nước ngoài.

Nhìn nhận ở khía cạnh đánh đổi lợi ích, Chính phủ có thể tính toán liệu việc gia tăng đầu
tư vào Lào và Cambodia giúp bạn từ bỏ tham vọng xây dựng hệ thống đập thủy điện
dòng chính hay không. Theo ư ớc tính tổng lượng tiền đầu tư vào các 12 dự án đập thủy
điện dòng chính của Lào và Cambodia khoảng 25 tỉ USD – gấp khoảng 4 lần tổng đầu tư
trực tiếp của Việt Nam vào 2 quốc gia này tính đến thời điểm hiện tại. Nếu có được sự
đồng thuận với các nhà đầu tư và đối tác phát triển khác, Việt Nam có thể giúp Lào và
Cambodia lựa chọn các lĩnh vực phát triển bền vững, hiệu quả và ít tác động hơn thủy
điện để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế và xóa đói Giảm nghèo. Trong trường hợp
này, sự đồng hành của các công ty Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng.

Một công cụ khác cần được cân nhắc sử dụng một cách hợp lý là viện trợ phát triển. Viện
trợ phát triển hay h ỗ trợ phát triển bao gồm các khoản tài trợ và cho vay đối với các quốc
gia và vùng lãnh thổ đang phát triển , được các quốc gia phát triển dùng như một c ông
cụ đối ngoại bên cạnh mục đích giúp đỡ các quốc gia khác . Bên cạnh góp phần phát triển
kinh tế và xóa đói Giảm nghèo, nguồn vốn hỗ trợ phát triển còn có thể tài trợ cho các lĩnh
vực khác như giáo dục, y tế, môi trường, tăng cường giao lưu văn hóa, v.v.

Trong giai đoạn 2008 -2010, Lào nhận được hơn 1,33 tỉ USD hỗ trợ phát triển; Cambodia
là hơn 2,2 tỉ USD 9. Ngược lại với nguồn đầu tư trực tiếp, Việt Nam không nằm trong top
các quốc gia cung cấp hỗ trợ phát triển cho hai quốc gia này. tuy nhiên, Chính phủ V iệt
Nam và nhiều Doanh nghiệp đã có thường xuyên hoạt động tài trợ, hỗ trợ phát triển cho hai quốc
gia này ở các quy mô khác nhéu.

Chúng Tôi cho rằng Việt Nam cần cân nhắc thành lập một cơ quan phát triển quốc tế theo
mô hình các nước phát triển đang thực hiện. Cơ quan này sẽ đảm trách thu hút nguồn lực
từ Chính phủ, Doanh nghiệp và các nhà tài trợ khác để thực hiện các chương trình, dự án
hỗ trợ phát triển tại các quốc gia đối tác quan trọng (cụ thể trước mắt là Lào và
Cambodia). Bên cạnh mục tiêu tập trung ngu ồn lực và chuyên môn hóa vận hành hỗ trợ

phát triển, cơ quan này cũng sẽ giúp cải thiện hình ảnh, uy tín của Việt Nam như là một
đối tác có trách nhiệm và tin cậy.

Nếu dùng một cách hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp và viện trợ phát triển, Việt Nam có
thể gia tăng tiếng nói trên bàn đàm phán, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên. Việt Nam
có thể huy động các đối tác phát triển khác tham gia vào bài toán đánh đổi này để đảm bảo
lưu vực hạ Mê Kông không bị đe dọa bởi tác động của hệ thống đập thủy điện trên dòng
chính.

Chú thích bản đồ: Hệ thống đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông (màu đen: đã
xây dựng; màu xám: đang xây dựng; màu trắng: dự kiến). Bản quyền của TERRA.

Lời cảm ơn: Các tác giả xin phép chân thành cảm ơn Ts. Đào Trọng Tứ, Ts. Lê Anh Tuấn v à
Th.S Nguyễn Hữu Thiện đã đóng góp ý kiến, giúp Chúng Tôi hoàn thiện bài viết này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Stone R. Mayhem on The Mekong. Science . 2011;333(August):814 –818. Available at:
http://www.sciencemag .org/content/333/6044/814.short.
2. ICEM. Strategic Environmental Impact Assessment for Hydropower on the Mekong
Mainstream. Final Report, prepared for the Mekong River Commission . Hanoi; 2010.
Available at: http://www.mrcmekong.org/ish/SEA/SEA -Main -Final -Report.pdf.
3. Nhóm công tác Mê Kông. một số phân t ích các vấn đề chính liên quan đến dự án thủy
điện Xayaburi và bậc thang thủy điện trên dòng chính hạ lưu lưu vực Mê Kông. 2011.
4. Costanza R, Kubiszewski I, Paquet P, et al. Planning Approaches for Wate r Resources
Development in the Lower Mekong Basin .; 2011. Available at:
http://web.pdx.edu/~kub/publicfiles/Mekong/LMB_Report_FullReport.pdf.
5. Ủy ban sông Mê Công Việt Nam. Dự thảo Kế hoạch hành động thực hiện chiến lược
phát triển lưu vực dựa trên quản lý tổng hợp tài nguyên nước của Ủy hội sông Mê Công.
2012.
6. Trung tâm Con người và Thiên nhiên. Thủy điện Mê Kông: Ai được, ai mất? 2011.
Available at: http://nature.org.vn/vn/2011/10/thuy -dien -me -kong -ai-duoc -ai-mat/.
7. Cục Đầu tư Nước ngoài. Tình hình đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài 9
tháng đầu năm 2012. 2012. Available at:
http://fia.mpi.gov.vn/News.aspx?ctl=newsdetail&p=3&aID=1243. Accessed October 22,
2012.
8. Hiệp hội các nhà đầu tư sang Myanmar. Tình hình hợp tác kinh tế – thương mại – du
lịch giữa Việt Nam và Myanmar. 2011. Available at:

http://avim.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=60&Itemid=79&la
ng=vi. Accessed October 22, 2012.
9. OECD. Aid Statistics, Recipient Aid at a glance. 2012. Available at:
www.oecd.org/dac /stats/recipientcharts. Accessed October 22, 2012.

Mọi Người Xem :   Lãnh hải là gì? Khái niệm lãnh hải như thế nào?


Các câu hỏi về ý nghĩa của sông mê kông


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê ý nghĩa của sông mê kông hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết ý nghĩa của sông mê kông ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết ý nghĩa của sông mê kông Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết ý nghĩa của sông mê kông rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về ý nghĩa của sông mê kông


Các hình ảnh về ý nghĩa của sông mê kông đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tham khảo thông tin về ý nghĩa của sông mê kông tại WikiPedia

Bạn nên tra cứu nội dung chi tiết về ý nghĩa của sông mê kông từ trang Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://khoalichsu.edu.vn/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://khoalichsu.edu.vn/hoi-dap/

🏠 Quay lại trang chủ

Các bài viết liên quan đến

Mọi Người Xem :   Ho khan kéo dài cảnh báo bệnh gì?

Related Posts

About The Author

Add Comment