kiểm soát và vai trò của kiểm soát trong quản trị – Tài liệu text

Bài viết kiểm soát và vai trò của kiểm soát trong quản trị – Tài liệu text thuộc chủ đề về Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng khoalichsu.edu.vn tìm hiểu kiểm soát và vai trò của kiểm soát trong quản trị – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung về : “kiểm soát và vai trò của kiểm soát trong quản trị – Tài liệu text”

Đánh giá về kiểm soát và vai trò của kiểm soát trong quản trị – Tài liệu text


Xem nhanh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (212.97 KB, 32 trang )

1Mục lục Trang1.Phần mở đầu 12.Phần nội dung2.1. Khái niệm chức năng kiểm soát2.2. Nguyên tắc xây dựng cơ chế kiểm soát2.3. Tiến trình kiểm soát2.4. những loại hình kiểm soát2.4.1. Kiểm soát lường trước2.4.2. Kiểm tra cùng lúc ấy (Kiểm soát trong khi thực hiện)2.4.3. Kiểm tra phản hồi (Kiểm soát sau khi thực hiện)2.5. Các công cụ kiểm soát2.6. Mục đích và tác dụng của việc kiểm soát3. Phần kết luận1. PHẦN MỞ ĐẦU:1.1. Giới thiệu đề tài:- Một bài học rút ra từ các thất bại về mặt tài chính tương đương sự sụpđổ hàng loạt dự án và các công ty chính là do sự lỏng lẻotrong công tác kiểm soát. Bởi vai trò thiết yếu của một nền tảngquản trị vững chắc là cơ chế kiểm soát hiệu quả, điều đó đóng gópsự thành công và phát triển vững bền của một công ty.- Bất kì Doanh nghiệp nào, khi triển khai một kế hoạch, cần phải có sựkiểm soát quá trình thực hiện để dự đoán được tiến đồ kế hoạch, và2nhanh chóng phát hiện sự chệch hướng khỏi kế hoạch để kịp thờikhắc phục.- Như vậy kiểm soát là chức năng rất cần thiết của mọi nhà quản trị, từcác nhà quản trị cấp cao đến các nhà quản trị cấp cơ sở trong doanhnghiệp. Tùy thuộc vào các chức vụ mà quy mô kiểm soát khác nhau,tất cả mọi nhà quản trị tương đương công ty đều đặn có nhiệm vụ thựchiện quá trình kiểm soát để đảm báo hiệu quả các kế hoạch, dự án.

 Chính vì những lý do trên, nhóm chúng em quyết liệt lựa chọnđề tài: “Kiểm soát và vai trò của kiểm soát trong quản trị”để cóthể hiểu rõ hơn việc kiểm soát, cách thức thực hiện kiểm soát vàtầm quan trọng của công việc ấy2. PHẦN NỘI DUNG:2.1. Khái niệm chức năng kiểm soát:- Kiểm soát là chức năng sau cùng trong tiến trình quản trị . Kiểmsoát được xem như là một quá trình cung cấp các thông tin phản hồigiúp cho việc khắc phục những nhược điểm của công tác quản trị ,đảm bảo tổ chức đạt được những mục tiêu đã xác định. Kiểm soátkhông chỉ dừng lại ở những vận hành đã diễn ra và kết thúc, nó cònlà quy trình kiểm soát trước đối với những sự việc sắp xảy ra, điềunày là đặc biệt quan trọng đối với công tác quản trị trong các doanh3nghiệp ngày nay, nó giúp cho các Doanh nghiệp chủ động đối phóvới những nguy cơ sắp tới hạn chế thiểu rủi ro trong buôn bán.- Hiểu theo cách đơn giản thì kiểm soát là đo lường và chấn chỉnhviệc thực hiện nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch đềra để thực hiện các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành.- Những biện pháp kiểm tra hiệu quả phải đơn giản (càng ít đầu mốikiểm tra càng tốt) cần tạo sự tự do và cơ hội tối đa cho người dướiquyền chủ động dùng kinh nghiệm, khả năng và tài năng quản trịcủa mình để đạt kết quả cuối cùng mong muốn về những công việcđược giao.- tuy nhiên trong thực tiễn, khái niệm của kiểm soát vẫn được hiểutheo thường xuyên cách khác nhau, có quan điểm cho rằng: “Kiểm soát làchức năng sau cùng do đó nó chỉ diễn ra khi các công việc kếtthúc”, “Kiểm soát là một vận hành chỉ có trong một giaiđoạn nhất định” , những cách hiểu như vậy là chưa đầy đủ vàkhông đúng với bản chất của việc kiểm soát.- Trích sách “Quản trị học” của nhà xuất bản Phương Đông địnhnghĩa như sau: “ Kiểm soát là quy trình đo, lường kết quả thực tếvà so sánh với những tiêu chuẩn nhằm phát triển sự sai lệch vànguyên nhân sự sai lệch trên cơ sở đó đưa ra biện pháp điềuchỉnh kịp thời nhằm khắc phục sự sai lệch hoặc có nguy cơ sự sailệch, đảm bảo tổ chức đạt được những mục tiêu của nó”.- Hay theo Robert J.Mockler, trong tác phẩm “The ManagementControl Process” (Diễn trình kiểm tra quản trị) đã định nghĩa:“Kiểm tra quản trị là một nỗ lực có hệ thống nhằm thiết lậpnhững tiêu chuẩn, những hệ thống phản hồi thông tin, nhằm sosánh những thành tựu thực hiện với định mức đã đề ra, và đểđảm bảo rằng nguồn nhân lực đã và đang được dùng có hiệuquả nhất, để đạt mục tiêu của tổ chức”.2.2. Các nguyên tắc xây dựng cơ chế kiểm soát:4Tất cả các nhà quản trị đều đặn muốn có một cơ chế kiểm tra thích hợpvà hữu hiệu giúp họ trong việc đảm bảo rằng các hoạt động trongDoanh nghiệp diễn ra theo đúng kế hoạch và đưa đến việc hoànthành mục tiêu. Vì mỗi tổ chức đều có mục tiêu vận hành, nhữngcông việc, và những con người cụ thể riêng biệt, cho nên các biệtpháp và công cụ kiểm tra của mỗi công ty đều đặn phải được xâydựng theo những bắt buộc riêng.• Kiểm soát phải được thiết kế căn cứ trên kế hoạch hoạt độngcủa tổ chức và căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểmsoát: Vì mục tiêu chủ yếu của kiểm soát là kiểm soát tìnhhình thực hiện kế hoạch; Vì vậy kế hoạch trở thành đối tượngvà cũng đồng thời là cơ sở của kiểm soát. Kiểm soát phảiđược thiết kế theo kế hoạch hoat động tổ chức. Nội dungkiểm soát tùy thuộc vào nội dung của kế hoạch hoạt động,mặt khác kiểm soát cần được thiết kế căn cứ theo chức vụ củađối tượng bị kiểm soát. Không thể áp dụng việc kiểm soátgiống nhau cho tất cả mọi cấp bậc và đối tượng khác nhau. Vídụ, khi kiểm soát khả năng quản trị của một phó giám đốcchúng ta phải đặt ra những tiêu chuẩn để đánh giá khác vớinhững tiêu chuẩn đặt ra với một tổ trưởng, kiểm soát côngviệc của một giáo viên khác của một công việc của mộttrưởng khoa, sự kiểm soát của nhân viên bán hàng sẽ khác vớikiểm soát bộ phận tài chính, một công ty nhỏ đòi hỏicách thức kiểm soát khác khác với sự kiểm soát các xí nghiệplớn.• Công việc kiểm soát phải được thiết kế theo bắt buộc của nhàquản trị: Việc kiểm soát là nhằm làm cho nhà quản trị nắmbắt được những vấn đề đang xảy ra mà họ quan tâm. do đó,việc kiểm soát phải xuất phát từ những nhu cầu riêng của mỗi5nhà quản trị để cung cấp cho họ những thông tin phù hợp.Vídụ: Khi nhà quản tị đang quan tâm đến vấn đề tài chính củacông ty thì việc kiểm soát phải nhằm mục đích là xácđịnh cho được những vấn đề tài chính hiện nay của doanhnghiệp.• Sự kiểm soát phải được thực Hiện tại những khâu trọng yếu:Khi xác định rõ được mục đích của kiểm soát, trên thực tế cácnhà quản trị phải lựa chọn và xác định phạm vi cần tập trungviệc kiểm soát. Nếu không xác định được chính xác khu vựctrọng điểm và kiểm soát trên một khu vực quá rộng, sẽ làmtốn kém thời gian, lãng phí về vật chất mà việc kiểm soátkhông đạt được hiển quả cao. Khâu trọng yếu cần kiểm soátlà những khâu quyết liệt sự tồn tại của tổ chức. một vài sailệch so với tiêu chuẩn có ý nghĩa tương đối nhỏ, và một sốkhác có tầm quan trọng lớn hơn. Trong công việc kiểm soát,nhà quản trị nên quan tâm đến yếu tố có ý nghĩa quan trọngđối với vận hành của xí nghiệp, và những yếu tố đó được coilà điểm trọng yếu của xí nghiệp.Ví dụ khâu trọng yếu cầnđược kiểm soát trong nhà trường là những vận hành liênquan đến giảng dạy và đáp ứng cho giảng dạy. Đó cũng có thểlà sự yếu kém hay trì trệ đang diễn ra ở nơi nào đó trong hoạtđộng của công ty đòi hỏi phải tập trung kiểm soát tìm ranguyên nhân để giải quyết, ví dụ doanh số bán sản phẩm củaDoanh nghiệp tai thị trường X đang hạn chế sút liên tục…• Kiểm soát phải khách quan: Nếu như việc thực hiện kiểmsoát với những định kiến có sẵn sẽ không cho chúng ta nhữngnhận xét và đánh giá khách quan, đúng mức về đối tượngđược kiểm soát, kết quả kiểm soát sẽ bị sai lệch và dĩ nhiênảnh hưởng đến những giải pháp đề xuất làm cho tổ chức gặp6phải những tổn thất lớn. Vì vậy, kiểm soát phải được thựchiện với thái độ khách quan. Đây là một yêu cầu rất cần thiếtđể đảm bảo kết quả và các kết luận kiểm soát được chính xác.• Hệ thống kiểm soát phải phù hợp với bầu không khí cuảcông ty( tổ chức): Để cho việc kiểm soát có hiệu quảcao cần xây dựng một quy trình và các nguyên tắc kiểm soátphù hợp với nét văn hóa của Doanh nghiệp.Nếu công tycó phong cách lãnh đạo dân chủ, nhân viên được độc lậptrong công việc, được phát huy sự sáng tạo của mình thì việckiểm soát không nên đi vào quá chi tiết và quá chặt chẽ.Ngược lại, nếu các nhân viên cấp dưới quen làm việc với cácnhà quản trị có phong cách độc đoán, nhiều chỉ đạochi tiết, cụ thể và nhân viên cấp dưới có tính ỷ lại, không cókhả năng linh động thì không thể áp dụng cách tự kiểm soát,trong đó nhấn mạnh đến sự tự giác hay tự điều chỉnh của mỗingười.• Việc kiểm soát cần phải tiết kiệm và bảo đảm tính hiệu quảkinh tế: Mặc dù nguyên tác này là việc dễ dàng nhưngthường khó trong thực hành. Thực ra việc kiểm soát là chứcnăng rất cần thiết trong quản trị. Nó đòi hỏi những chi phí nhấtđịnh trong quy trình thực hiện. Do vậy, cần phải tính toánnhằm thực hành tiết kiệm, hạn chế chi phí này vá nhớ đừng nên lạmdụng quá nhiều tác dụng của kiểm soát. Ví dụ: nếu cơ chếquản trị công ty được xây dựng hợp lý, hoạt động xínghiệp diễn ra trôi chảy, ít bị trục trặc thì công việc kiểm soátthực hiện ít hơn, chi phí cho kỉm soát Giảm xuống.• Việc kiểm soát phải đưa đến hành động: Việc kiểm soát đượccoi là đúng đắn, nếu những sai lệch so với kế hoạch được pháthiện và tiến hành điều chỉnh trên thực tế. Ngược lại, nếu như7việc phát hiện ra sự sai lệch và tác nhân của sự sai lệchmà không gắn với quy trình điều chỉnh lại thì, trên thực tếcông việc kiểm soát coi như vô nghĩa vì không có tác dụng.Trên đây là một số nguyên tắc cơ bản đòi hỏi công việc kiểmsoát trong các công ty phải thực hiện. Việc nhận thức và vậndụng đúng đắn các nguyên tắc này sẽ góp phần làm tăng hiệu quảcủa kiểm soát.2.3. Tiến trình kiểm soát:Bước 1: Xác định tiêu chuẩn kiểm soát:Như đã đề cập trong định nghĩa trên, kiểm soát là quá trình đolường và đánh giá kết quả thực tế và so sánh với các tiêu chuẩn nhằmphát hiện sai lệch, Vì vậy để xác lập cơ sở cho quy trình kiểm soát cầnphải xác định các tiêu chuẩn kiểm soát. Tiêu chuẩn kiểm soát chính làcác chuẩn mực, hay là mục tiêu, chỉ tiêu mà chúng ta đặt ra cho việcthực hiện. Nó là những kết quả mà chúng ta nhu cầu đạt được. Vídụ chỉ số tiêu thụ điện năng hoặc nhiên liệu của một động cơ nào đóhoặc là thời gian đáp ứng một đơn hàng,Tùy theo nội dung và đối tượng kiểm soát mà các chuẩn mực(các tiêu chuẩn kiểm soát) có thể được xác định khác nhéu. Nếu nộidung kiểm soát là việc thực hiện kế hoạch thì tiêu chuẩn kiểm soát lànhững mục tiêu, chỉ tiêu, những tỉ lệ, những đặc tính mà chúng ta đặt ratrong kế hoạch. Tiêu chuẩn kiểm soát có khả năng biểu hiện dưới dạng địnhtính hoặc định lượng. tuy nhiên thông thường các chỉ tiêu định lượng sẽdễ dàng cho việc kiểm soát hơn. Dễ có thể gia tăng hiệu quả của côngtác kiểm soát, khi thiết lập các tiêu chuẩn kiểm soát cần thực hiện cácyêu cầu sau:• Các tiêu chuẩn kiểm soát phải nhất quán với các mục tiêu chiếnlược chung của tổ chức.8• Các tiêu chuẩn kiểm soát được thực hiện dưới cách thức là cácmục tiêu của việc thực hiện cần chi tiết hóa ở từng cấp và do mỗicấp tự định ra trên cơ sở thực hiện tham khảo mục tiêu ở cấp caohơn.• Các tiêu chuẩn kiểm soát nên thiết kế giúp cho việc kiểm soátquy trình. Muốn vậy chúng ta rất cần thiết lập dưới dạng các yếu tốđầu vào (Inputs), các kết quả đầu ra (Outputs) và các kết quả saucùng (Outcomes). Chúng có lien hệ mật thiết với nhau, phản ánhchính xác kết quả thực hiện, giúp cho việc phát hiện sai lệch vàhiệu chỉnh dễ dàng nhằm đảm bảo hệ thống đạt hiệu quả cao.• Mang tinh chất hiện thực ( trong vòng coa cũng không quá thấp)• Phải có sự giải thích về sự hợp lý của các tiêu chuẩn đề ra.• Dể dàng cho việc đo lường.Ví dụ: Để kiểm soát hiệu quả đào tạo của trường ĐH ta cóthể sử dụng đầu vào (các inputs: điểm chuẩn đầu vào các mônthi tuyển sinh), đầu ra (các outputs: điểm thi các học phần, điểmthi tốt nghiệp, ) và các kết quả sau cùng (các outcomes: sự hàilòng của các công ty sự dụng nhân lực:Loại hìnhkiểm soátĐối tượngkiểm soátTiêu chuẩn kiểm soátKiểm trađầu vào(Inputs)Kiểm soát vậttưTỷ lệ phần trăm có khuyết tậttrong giới hạn cho phépKiểm soát lậpdự toán vốnTỷ suất lợi nhuận thời gian thu hồivốn, tỷ suất lợi nhuận chiết khấu.Kiểm soátnhân lựcNhững đặc điểm kỹ thuật củacông việc, kỹ năng, kinh nghiệphọc vấn đảm bảo hoàn thành công9việc.Kiểm soáthiện hành(Conversion Process)Hành vi củangười lao độngCác quy trình thực hiện công việcchuẩn, các quy tắc, quy định,vận hành củamáy móc thiếtbịCác chỉ số phản ánh tình trạng vậnhành của máy móc (ví dụ: tốc độ,mức tiêu hao nhiên liệu, )Kiểm trađầu ra(Outputs)Kết quả thựchiện công việcNăng suất, sản lương thực hiệnTình hình thựchiện kế hoạchMức độ hoàn thành các chỉ tiêutrong kế hoạchTình hình đápứng kháchhàngChỉ số hài lòng của khách hàngBảng 2.1: Ví dụ về những loại hình kiểm soát và tiểu chuẩn kiểm soátBước 2: Đo lường thành quả:Nội dung của bước này là căn cứ vào những tiêu chuẩn đã ra trngbước 1, tiến hành đo lường kết quả thực tế nhằm phát hiện sai lệch.Thực tế cho thấy hiệu quả đo lường còn tùy thuộc vào phương pháp đolường và công cụ đo lường, thường xuyên khi phải tốn kém rất thường xuyên chi phí vàthể gian để đo lường một hoạt động nào đó nhưng hiệu quả lại rất thấp(độ tin cậy một vận hành không cao). Ví dụ một nhà sản xuất muốnđiều tra thị trường để ước lượng có khả năng thích ứng của danh mục mớinhư thế nào? Trường hợp này cho thấy phương pháp đo lường sẽ quyếtđịnh độ tin cậy của việc đo lường. mặt khác việc đo lường đối với10những tiêu chuẩn là định lượng sẽ đơn giản hơn so với những tiêu chuẩnlà định tính hoặc là những “tiêu chuẩn mờ “, ví dụ đo lường thị phầncủa danh mục sẽ dễ hơn việc đo lường uy tín của nhãn hiệu.Bước 3: Điều chỉnh các sai lệchNếu như kết quả thực tế có sai lệch so với những mục tiêu (những tiêu chuẩn)đã dự kiến thì cần phải phân tích rõ ngyên nhân dẩn đến sự sai lệch và đề ranhững biện pháp nhằm khắc phục sự sai lệch đó. Sự sai lệch này có thể bắtnguồn từ nhiều lí do khác nhéu như: lỗi của người hoạt động; giám sát rồi;huấn luyện không phù hợp; máy móc hoặc vật hư hỏngKhi phát hiện sự sai lệch, có thể sử dụng thường xuyên biện pháp để khắc phụcnhư: tổ chức lại bộ máy xí nghiệp, phân công lại các bộ phận, đào tạo lại nhânviên, tuyển thêm lao động, thay đổi phong cách lãnh đạo và chính sách độngviên hoặc có khả năng định hướng lại mục tiêu chiến lược của tổ chức. Việc sửachữa sai lầm, tiến trình này có khả năng diễn tả như sau:Thông tinphản hồi(Feedback)Hình 2.2. Tiền trình kiểm tra căn bảnTừ những nội dung được trình bày trên đây cho thấy rằng kiểm soát là một hệthống phản hồi hết sức quan trọng đối với công tác quản trị. Chính nhờ hệthống phản hồi mà các nhà quản trị biết rõ được hiện trạng của công ty;những vấn đề mà nó đang gặp phải để chủ động thực hiện các biện pháp điểuchỉnh kịp thời.Phát hiện sai lầmhoạt độngSửa chữa11Một hệ thống kiểm tra tốt và hữu hiệu đối với nhà quản trị phải bao gồm kiểmtra mang tính chất dự phòng tức là một sự kiểm tra nhằm tiên liệu trước sựviệc sai sót sẽ xảy ra trừ khi phải có biện pháp để điều chỉnh ngay trong hiệntại. Lý do của sự việc nhấn mạnh đến việc kiểm soát mang tính dự phòng làdo tiến trình dài lâu của hoạt động kiểm soát cho dù mọi bước trong tiến trìnhđó đều được thực hiện một cách nhanh chóng. Tiến trình kiểm soát dự phòngcó thể diễn tả như sau:2.4.2.3.Vòng phản hồi của kiểm soát2.4. các loại hình kiểm soát:Trong quản trị, kiểm soát là chức năng cuối cùng trong 4 chức năng,điều này làm cho thường xuyên người ngộ nhận kiểm soát là vận hành chỉ diểnra khi sự việc đã kết thúc. Sự kiểm soát như vậy trong quản trị gọi làkiểm soát sau khi thực hiện (kiểm soát đầu ra), loại hình kiển soát nàykhông phục vụ được đầy đủ yêu cầu công tác quản trị ở các doanhnghiệp, vì lẽ đó trong quản trị cần thiết phải thực hiện 3 loại hình kiểmsoát.Kết quảthực tếPhát hiệnsai lệchSo sánhvới cáctiêu chuẩnĐo lườngPhân tíchnguyênnhân sailệchĐưa rachươngtrình điềuchỉnhThực hiệnsự điềuchỉnhKết quảmongmuốn122.4.1. Kiểm soát lường trước:Kiểm soát lường trước là loại hình kiểm tra đượctiến hành trước khi vận hành thực sự. Kiểm soátlường trước theo tên gọi của nó là tiên liệu các vấn đề có thể nảy sinh đểtìm cách ngăn ngừa trước. Chẳng hạn, phòng bệnh hơn chữa bệnh là mộtcách kiểm soát lường trước. Các nhà quản trị học hiện đại rất chú trọngđến loại hình kiểm soát này. Harold Koontz phân tích rằng: thời gian trễnải trong quá trình kiểm soát quản trị cho thấy công việc kiểm soát cầnphải hướng về phía tương lai nếu như nó cần có hiệu quả. Sau đây là mộtsố các kĩ thuật kiểm soát hướng tới tương lai:+ Dự báo mại vụ kết hợp với kế hoạch xúc tiến bán hàng (salespromotion) nhằm tăng cường doanh số kỳ vọng của Doanh nghiệp đối với mộtsản phẩm hay một đơn vị buôn bán chiến lược (SBU: strategic businessunit) nào đó;+ Phương pháp sơ đồ mạng lưới, còn gọi là kỹ thuật duyệt xét và đánh giáchương trình (PERT: Program Evaluation an Preview Te chnique),giúp nhà quản trị lường trước các vấn đề sinh ra trong các lãnh vực chiphí hoặc phân bổ thời gian, và có biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu cáchao phí về tai chánh hoặc về thời gian.+ Hệ thống các đầu vào để kiểm soát lường trước về tiền mặt, hoặc vềmức dự trữ hàng hóa;Nhân lựcNguyên liệuTài chánhcủa tổ chứcvận hànhđangtiến đếnmục tiêuTiến trình công tác: Hoạtđộng đang diễn ra.Kiểm soátphản hồiKiểm soátlường trướcKiểm soátcùng lúc ấy13+ Kiểm soát lường trước trong kỹ thuật công trình. Thí dụ kiểm tra nhiệtđộ trước khi luồng nước chảy ra vòi;+ Kiểm soát lường trước trong các hệ thống phản ứng của con người. Thídụ người thợ săn sẽ luôn ngắm đoán trước đường bay của chú vịt trời đểđiều chỉnh thời gian giữa lúc bắn và lúc viên đạn trúng đícH.Kiểm soát lường trước cũng có khả năng hiểu là quá trình kiểm soát đầu vào,với những nội dung như kiểm soát chất lượng vật tư, nhân lực; công nghệ,thiết kế sản phẩm trước khi đưa vào sản xuất hoặc phương án kinh doanhtrước khi thực hiện. Chẳng hạn trước khi quyết định sản xuất danh mụcmới để tung ra thị trường, xí nghiệp cần nghiên cứu thị trường để xác địnhkhả năng thích ứng của danh mục sau đó nếu kết quả cho thấy rằng sản phẩmmới có tính khả thi mới quyết định sản xuất đại trà. Tất cả các doanhnghiệp trước khi đưa kế hoạch vào thực hiện cũng nên kiểm soát lại kếhoạch xem có còn phù hợp hay không? Nếu thấy kế hoạch mà chúng ta đãlập ra không còn phù hợp thì phải chủ động điều chỉnh ngay từ đầu, tránhđể tình trạcg đưa một kế hoạch trước khi thực hiện là do trong khoãng thờigian từ khi xây dựng kế hoạch vào thực hiện có khả năng xuát hiện nhũng sựthay đổi nhằm ngoài dự kiến ban đầu.Mục đích của sự kiểm soát lường trước đối với kế hoạch buôn bán làtránh sai lầm ngay từ đầu. Cơ sở cỏa kiểm soát lường trước là dực vàonhững thông tin mới nhất về môi trường bên ngoài và môi trường nội bộcủa công ty để đối chiếu với những nội dung của kế hoạch mà ta đãlập ra, có còn phù hợp hay không; nếu không phù hợp thì chủ động điềuchỉnh kế hoạch ngay từ đầu. mặt khác, một cơ sở khác cho sự kiểm soátlường trước là dựa vào những dự báo, dự đoán về môi trường của doanhnghiệp trong thời gian tới.Trong chiều hướng biến động phức tạp của môi trường buôn bán Hiện tại,loại hình kiểm soát lường trước ngày càng trở nên quan trọng và theo cácnhà quản trị đây là loại hình kiển soát tốn ít chi phí nhưng hiệu quả lại rất14cao. Càng lên chức vụ cao hơn thì kiểm soát lường trước càng trở nênquan trọng hơn.2.4.2. Kiểm tra đồng thời (Kiểm soát trong khi thực hiện):Kiểm soát trong khi thực hiện là kiểm soát bằng cách theo dõi trực tiếpnhững diễn biến trong quy trình thực hiện (trong khi vận hành đang xảyra). Mục đích của sự kiểm soát này là nhằm kịp thời tháo gở những vướngmắt, những trở ngại hoặc những sai lệch xảy ra trong quy trình thực hiệnđể đảm bảo cho Doanh nghiệp đạt những mục tiêu, nhiệm vụ đã dự kiếntrong kế hoạch. Việc nhiều giám sát, theo dõi, đánh giá và hướngdẫn người lao động ngay trong quy trình thực hiện sẽ góp phần nâng caohiệu quả của loại kiểm soát này.Loại hình kiểm tra này còn có những danh xưng khác: Kiểm tra đạt/khôngđạt (Yes/No control). hình thức kiểm tra đồng thời thông dụng nhât làgiám sát trực tiếp (direct supervision): Khi một quản trị viên xem xét trựctiếp các vận hành của thuộc viên, cùng lúc ấy điều chỉnh ngay các sai sót(nếu có) của thuộc viên đó.Nếu có trì hoãn của diễn tiến vận hành do tácđộng điều chỉnh (corrective action), thì mức độ trì hoãn hoặc chậm trễthường chiếm thời gian ít nhất.Các thiết bị kỹ thuật thường được thiết kế theo phương thức kiểm tra đồngthời. Thí dụ: Hầu hết các máy vi tính đều đặn có khả năng báo cho ta biết ngay khimột phép tính hay một thuật toán vượt ngoài khả năng thực hiện hoặc chota biết nhập dữ liệu là sai. Máy tính sẽ từ chối thực hiện lệnh của ta và baocho ta biết tại sao lệnh đó sai.2.4.3. Kiểm tra phản hồi (Kiểm soát sau khi thực hiện)Kiểm soát ở phía đầu ra đươc thực hiện bằng cách đo lường kết quả thựctế và đối chiếu với các chuẩn mực đặt ra ban đầu. Mục đích của sự kiểmsoát này là nhằm đánh giá lại toàn bộ qúa trình thực hiện, rút ra những bàihọc kinh nghiệm về sự thành công hay thất ại trng quy trình thự hiệnthông qua việc tìm hiểu các nguyên nhân. Điều này rất cần thiết đề chocông việc quản trị trong tương lai đạt hiệu quả cao hơn. mặc khác như đã15chỉ ra ở trên đây, kiểm soát ở phía đầu ra chỉ có công dụng cho những lầntiếp theo sau, còn bản thân kỳ kế hoạch đó thì đã qua rồi. Sự kiểm soátnày có ý nghĩa giiống như các bác sĩ giải phẫu tử thi để tì kiếm nguyênnhân dẩn đến cái chết của các bệnh nhân để giúp các bác sỉ học để chuẩnđoán bệnh đúng hơn. Như vậy nhược diểm lớn nhất của loại hình kiểmsoát này là dộ trể về thời gian.Nhược điểm chính của loại kiểm tra này là độ trễ về thời gian thường khálớn từ lúc sự cố thật sự xảy ra và đến lúc phát hiện sai sót hoặc sai lệchcủa kết quả đo lường căn cứ vào tiêu chuẩn hay kế hoạch đã đề ra. Thí dụ:kết quả kiểm toán phát hiện vào tháng 12 Doanh nghiệp đã thua lỗ vào tháng 10do những hành động sai lầm từ tháng 7 của cấp quản trị Doanh nghiệp đó. Câunói ví von “Mất bò mới lo rào chuông” có khả năng phản ánh tình trạng này.mặc khác, kiểm tra phản hồi có hai ưu thế hơn hẳn kiểm tra lường trướclẫn kiểm tra đồng thời.+ Thứ nhất, nó cung cấp cho nhà quản trị những thong tin cần thiết phaảilàm thế nào để lập kế hoạch hữu hiệu trong giai đoạn hoạch định của quátrình quản trị. Nếu kiểm tra phản hồi chỉ ra rằng không có thường xuyên sai lệchgiữa kết quả đã thực hiện và tiêu chuẩn ( hoặc mục tiêu) cần đạt được thìđiều này chứng tỏ công tác định hướng hữu hiệu. Ngược lại, sự phát hiệncó thường xuyên sai lệch sẽ giúp nhà quản trị rút kinh nghiệm để đưa ra những kếhoạch mới tốt hơn.+ Thứ hai, kiểm tra phản hồi có thể giúp cải tiến động cơ đẩy nhanh nhânviên ( employee motivation) làm việc tốt hơn. Nó cung cấp cho mọi ngườitrong Doanh nghiệp những thông tin cần thiết phải làm thế nào để cải thiện chấtlượng các hoạt động của mình trong tương lai.Tóm lại, mỗi giai đoạn kiểm soát đều đặn có những vai trò và công dụng khácnhéu. Để cho công tác kiểm soát đạt hiệu quả, sự kiểm soát rất cần thiết phảithực hiện ở cả 3 giai đoạnKẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢCLẬP KẾ HOẠCH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH16Kiểm soát Kiểm soát sau khi thực hiệnlường trướcKiểm soát trongkhi thực hiện2.5. Các công cụ kiểm soát:2.5.1. Ngân quỹ:Ngân quỹ vừa là một công cụ lập kế hoạch, đồng thời vừa là một công cụkiểm soát rất quan trọng của các nhà quản trị. Việc lập kế hoạch ngân quỹcho phép các nhà quản lí thấy một cách rõ ràng là tiền vốn sẽ được ai chitiêu và chi tiêu ở đâu, và các kế hoạch sẽ bao gồm những khoản nào vềchi phí, về nguồn thu hoặc về số đơn vị đầ vào và đầu ra dưới dạng vật lí.Khi tin chắc về điều này, người quản lí sẽ chuyển giao quyền hạn mộtcách tự do hơn để làm cho kế hoạch đạt hiệu quả trong phạm vi có hạncủa ngân quỹ. Các dạng ngân quỹ: Ngân quỹ thu và chi. Ngân quỹ thu: gồm các khoản thu từ việc bán hànghoặc cung cấp các dích vụ. Ngân quỹ chi: gồm các khoản chi cho lao độngtrực tiếp, vật liệu, giám sát, thuê mướn máy móc, thiết bị, Ngân quỹ về thời gian, không gian, vật liệu và danh mục: có thường xuyên ngânquỹ thể hiện dưới dạng vật lí tốt hơn dạng tiền tệ. Mặc dù những ngân quỹđó cũng thường chuyển đổi được sang các số lượng tiền tệ, song trongnhiều trường hợp việc biểu hiện dưới hình thức tiền tệ có khả năng không đolường chính xác nguồn lực được sử dụng và hiệu quả đích thực của nó.17 Các ngân quỹ biểu hiện dưới dạng vật lí gồm: số giờ lao động trực tiếp, sốgiờ máy, số đơn vị vật liệu, số đơn vị diện tích đươc phân bố, số đơn vịsản phẩm được sản xuất ra. Ngân quỹ về tiền mặt: số thu và chi tiền mặt, số tồn tiền mặt. Ngân quỹnày giúp chúng ta xác định khả năng chi trả các khoản nợ đến kỳ hạn phảitrả, có khả năng đầu tư của công ty. Ngân quỹ tiền mặt được xác địnhhợp lí trong vận hành sẽ giúp tổ chức đảm bảo sự hoạt động bình thường. Kỹ thuật lập ngân quỹ:Mặc dù một trong những mục đích của lập ngân quỹ là nhằm tạo cơ sởcho phân quyền một cách tự do hơn, tăng quyền hạn cho cấp dưới thường xuyên hơn,song nếu không khéo thi đi ngược lại với mục đích trên. Trong thường xuyên trườnghợp do ngân quỹ được lập ra một cách cứng nhắc, quá chi tiết và chi tiết làmcho cấp cơ sở bị trói buộc trong những tỉ lệ và con số cố định, Vì vậy làm khókhăn cho hoạt động của cấp cơ sở và mất đi khả năng linh động, thậm chítrong thường xuyên trường hợp trở nên kém hiệu quả. Lấy ví dụ ở các trường ĐHở Việt Nam Hiện tại theo quy định của bộ Tài chính, hàng năm nguồn thu từđào tạo phải trích ra 40% cho xây dựng cơ bản, điều này cho thấy rằng có nhữngbất hợp lý do con số cứng nhắc này, tùy điều kiện chi tiết ở từng trường làkhác nhau, có những trường vì cơ sở vật chất còn nghèo, tỉ lệ 40% là khôngđủ nhưng cũng có trường thì con số 40% có thể là quá thừa, kéo theo mộtnghịch lý là trong khi mức thu nhập từ giảng dạy rất thấp là những khoảng đầu tưkhác còn thiếu không được cải thiện hơn mà việc đầu tư xây dựng thì lại rất lãngphí, vì nếu không dùng hết quỹ này mà bộ đã cấp thì phải nộp lại danhsách và chắc rằng năm sau ngân sách sẽ cắt Giảm, tình trạng này đã dẫn đến tìnhtrạng là cố tìm ra cách để chi cho hết số quỹ trên.18Phải thấy rằng mục đích của việc lập kế hoạch về ngân quỹ là nhằm quảnlý có hiệu quả hơn và sau cùng là nhằm thực hiện những mục tiêu cơ sở tốthơn. Vậy vấn đề là làm thế nào vừa đảm bảo được sự kiểm soát của cấp trênthông qua kế hoạch ngân quỹ nhưng đồng thời vẫn tạo ra quyền chủ động,năng động và sáng tạo cho cấp cơ sở trong quy trình hoạt động đó là quy trìnhcốt lõi cho việc lựa chọn kỹ thuật lập kế hoạch ngân quỹ. Trong tác phẩm”Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, Koontz và O Donnell đã giới thiệu 3 kỹthuật lập ngân quỹ.• Ngân quỹ biến đổi: Được áp dụng chủ yếu cho ngân quỹ chi tiêu,nó được thiết kế có khả năng được thay đổi khi số lượng bán hoặc mộtvài số đo khác của sản lượng thay đổi ngay. Ngân quỹ biến đổi đượcthiết kế dựa trên việc phân tích các khoản mục chi tiêu để xác địnhxem các chi phí riêng lẻ sẽ biến đổi như thế nào theo khối lượngsản lượng. Trong các khoản chi phí, một vài khoảng sẽ không thayđổi theo khối lượng, đặc biệt trong một thời kỳ đủ ngắn như mộttháng, 6 tháng hay 1 năm. Ví dụ chi phí hao mòn, thuế của cải/tài sản vàbảo hiểm của cải/tài sản, chi phí bảo dưỡng máy, chi phí để duy trì một sốbiên chế tối thiểu các viên chức giám sát và viên chức then chốtkhác. Những chi phí biến đổi theo khối lượng sản lượng bao gồmtừ những loại có khả năng biến đổi hoàn toàn, cho tới các loạicó thể biến đổi đôi chút. Nhiệm vụ của lập kế hoạch ngânquỹ biến đổi là chọn ra một số đơn vị đo lường để phản ánh khốilượng, để kiểm soát những chủng loại chi phí khác nhau, và bằngcác thống kê thống kê để xác định xem những chi phí đó sẽ biếnthiên như thế nào theo khối lượng sản lượng. Căn cứ vào đâyngười ta giao cho mỗi phòng, ban sản phẩm chi phí biến đổi, cùngmột vài khoản tiền nhất định cho những chi phí cố định hoặc tạmthời của nó. Sau đó một cách định kỳ thường là hàng tháng các19trưởng ban sẽ nhận được các con số dự đoán khối lượng cho mộttương lai vừa phải, mà từ đó các khoản tiền về chi phí biến đổi bổsung vào ngân quỹ sẽ được tính toán. Theo cách này, ngân quỹ cơbản có khả năng được xây dựng trước cho thời gian 6 thàng hoặc 1 năm,nhưng nó sẽ được thay đổi theo những biến đổi ngắn hạn về lượngbán và sản lượng.• Ngân quỹ cơ sở – Zêrô: Đây là kỹ thuật lập ngân quỹ được thiết kếbằng cách chia các chương trình của cơ sở thành ra “các gói” baogồm các mục tiêu, các hoạt động và các nguồn lực rất cần thiết và sauđó tiến hành tính toán chi phí cho mỗi gói này. Bằng cách bắt đầungân quỹ của mỗi gói từ cơ sở – zêrô, cho nên các chi phí đượctính toán lại cho mỗi thời kỳ ngân quỹ, và nhờ vậy sẽ tránh đượcchiều hướng chung trong việc lập ngân quỹ là chỉ chú trọng vàonhững thay đổi ngay so với thời kỳ trước. Nói chung kỹ thuật này đượcáp dụng cho các khu vực phụ trợ hơn là cho các khu vực sản xuấtthực sự. Ưu điểm chính của kỹ thuật này là ở chỗ nó buộc các nhàquản lý phải lập kế hoạch cho mỗi gói chương trình. Khi các nhàquản lý làm như vậy họ xem xét lại các chương trình đã xây dựngvà các chi phí cho mỗi gói toàn bộ, song song với các chươngtrình mới hơn và chi phí của chúng.• Ngân quỹ lựa chọn và ngân quỹ phụ: Một phương pháp khác đểthu được ngân quỹ biến đổi là xây dựng các ngân quỹ lựa chọn đốivới các tình huống có khả năng lựa chọn. Đôi khi một công ty xây dựngcác ngân quỹ đối với mức hoạt động cao, một mức vừa, và mộtmức thấp. Các ngân quỹ lựa chọn là sự biến dạng của ngân quỹbiến đổi, ở đây các ngân quỹ biến đổi mà thực ra nó có thể biếnthiên vô hạn được giới hạn lại trong một số có khả năng lựa chọn.2.5.2. Kiểm tra tài chính20Mục đích cơ bản của mọi tổ chức kinh doanh là kiếm được một lợi nhuận.Để đạt được mục tiêu này, những người quản lí tìm cách kiểm soát tài chính,chẳng hạn như phân tích những bảng kê khai doanh thu hàng quí để tìm xemcó khoản chi nào quá đáng hay không. Những cách kiểm soát như vậy đượclàm nhằm giảm đi chi phí và tận dụng nguồn lực tài chính.Có bốn phương cách chính về kiểm soát tài chính, mà thông dụng nhất làngân sách. Ngân sáchTrước hết ngân sách là một kế hoạch bằng số. Sau khi lập xong nó trởthành một công cụ để lập kế hoạch chung vì nó định ra hướng phải theo,những vận hành quan trọng và nguồn lực được cấp phát. Nó còn được sử dụngđể kiểm soát thời gian, khoảng trống và sự sử dụng những vật liệu – nguồnlực. Ngân sách được thông dụng như thế là vì nó có khả năng được áp dụng cho đủloại tổ chức khác nhéu và những đơn vị của những tổ chức ấy. Hơn nữa hầuhết các thứ đều đặn có khả năng qui thành tiền.những loại ngân sách: không có lĩnh vực nào mà không có thể áp dụngngân sách. các loại thường gặp nhất là:• Ngân sách lợi nhuận: Được quản lí dùng như một cách kiểm soátnhưng thường thấy trong những tổ chức lớn. Nó kết hợp ngân sáchdoanh thu với ngân sách chi phí vào làm một.• Ngân sách tiền mặt: Dự trù số lượng tiền mặt mà tổ chức phải có trongtay và số lượng cần cho những chi phí. Nó có khả năng phát hiện những thiếuhụt tiềm tàng và tiền mặt dư sẵn có khả năng đầu tư ngắn hạn.• Ngân sách chi tiêu vốn: Liên quan đến những chi tiêu về của cải/tài sản, nhàcửa và thiết bị. Nó giúp quản lí tiên liệu được nhu cầu vốn tương lai.21Những ngân sách này thay đổi ngay: Tất cả những ngân sách ở trên đều gọi làcố định, vì chúng được giả thiết cố định khối lượng sản xuất và tiêu thụ.Nhưng phần lớn những tổ chức không biết khối lượng đó, và những chi phíthay đổi theo khối lượng đó. Những ngân sách này thay đổi ngay có thể phục vụvới những thay đổi ngay trong kế hoạch. Phân tích tài chínhNhững phân tích tài chính là những cách kiểm soát cung cấp tin trở lại.• Bảng cân đối (quyết toán) được coi là như một tấm hình về tình hình tàichính của một tổ chức hay đơn vị trong một thời điểm nào đó. Nó chobiết tình trạng tài chính của một tổ chức hay đơn vị trong một thờiđiểm. Nó giúp cho những người quản lý: (1) một phương thuận tiện để kiểmsoát có khả năng của một đơn vị phục vụ với những nghĩa vụ bình thường,bằng cách đổi những của cải/tài sản thành tiền mặt và (2) một hình ảnh về điềukiện tài chính tổng quát của tổ chức.• Bảng kết toán mức lương: Bảng này phân tích vận hành tài chính của tổchức trong một thời kỳ, ba tháng, sáu tháng, hay một năm. Bảng nàykiểm soát lợi nhuận của tổ chức. Trước hết nó cho ta mức thu nhập gộp, rồilãi vòng. Ta có thể dùng nó để so sánh số liệu của hai thời kỳ.• Phân tích tỷ lệ: Những người quản lý thường muốn phân tích nhữngbảng kết toán một cách nghiêm túc hơn nữa, và một phương pháp đượcsử dụng và phân tích những tỷ số then chốt, tức là so sánh hai số liệulấy từ những bảng kết toán, và biểu diễn bằng những tỷ số hay số báchphân. Bằng cách này họ có khả năng so sánh số liệu Hiện tại với số liệu củanhững thời kỳ trước hau của những tổ chức khác.• Tỷ số thanh toán: Để đo lường khả năng của một tổ chúc có thể đổiđược những của cải/tài sản của mình ra thành tiền mặt để thanh toán nhữngmón nợ.22• Tỷ số bình thường (hiện có): Là tỷ số giữa của cải/tài sản với những món nợ.Tỷ số 2:1 là bình thường. Cao hơn nhiều có nghĩa là tổ chức chưa tậndụng được giá trị của tai sản của mình, dưới 1:1 có nghĩa là tổ chức cókhó khăn trong thanh toán những món nợ ngắn hạn.• Tỷ số thử nghiệm tổng giá trị trọng yếu: Cũng giống như tỷ số bình thường,nhưng số liệu kiểm kê không xuất hiện trong tử số. Tỷ số bình thường là 1:1.• Tỷ số nợ với tài sản: Vào thời kỳ kinh tế đúng mực, với những lãi suấtthấp, thì một tỷ số nợ với của cải/tài sản cao có khả năng mang lại nhiều lợi nhuậncho tổ chức. Nhưng khi nợ kỳ hạn ngắn với lãi suất cao, và doanh thucủa tổ chức Giảm thì những món nợ loại này có khả năng là gánh nặng cho tổchức.• Tỷ số vận hành: Mô tả quản lý đang sử dụng một cách hiệu quả nhưthế nào nguồn lực của tổ chức, gồm có các loại doanh số chia cho kiểmkê và loại doanh số chia cho tài sản.• Tỷ số xác suất: sử dụng để đo hiệu quả và hiệu suất của một tổ chức.Loại thứ nhất cấu tạo bởi lợi nhuận ròng chia cho doanh số được sửdụng để so sánh thành quả của tổ chức trong những thời kỳ khác nhaunhưng không dùng cho việc so sánh với những tổ chức khác nhéu. Loạithứ hai cấu tạo bằng cách nhân (mức lương/ đầu tư) với (lợi nhuận/ thunhập). Tỷ số này là một trong những cách thông dụng nhất để đo khảnăng lợi nhuận của một xí nghiệp. Phân tích trường hợp hòa vốnĐó là trường hợp không có lời hay lỗ với một vài sản phẩm nhất định. Trênsố đó là lời, dưới là lỗ. Đây là một lối công thức hóa dễ dàng, nhưng có giátrị cho những nhà quản trị, chỉ ra sự tương quan giữa mức lương, chi phí và lợinhuận. Muốn tính ra điểm hòa vốn, nhà quản trị phải biết giá đơn vị của sảnphẩm đem bán, chi phí biến đổi của mỗi đơn vị, và tổng chi phí bất biến.Những chi phí biến đổi như giá nguyên vật liệu, nhân công, năng lượng, v.v…23Công thức tính là:Tổng chi phí bất biến(Điểm hòa vốn)=Giá đơn vị – Chi phí biến đổi của mỗi đơn vịCông thức cho ta biết (1) tổng thu nhập sẽ bằng tổng chi phí, khi chúng tabán được một số sản phẩm với một tổng giá trị nào đó, đủ bù đắp tất cả những chiphí đơn vị biến đổi (2) và sự chênh lệch giữa giá cả và những chi phí biến đổikhi nhân với một vài đơn vị đã bán thì bằng những chi phí cố định. Kiểm toánKiểm toán là một sự kiểm điểm chính thức những tài khoản, giấy tờ, hoạtđộng hay thực hiện của một đơn vị, chủ yếu là để kiểm tra những cơ chế kiểmsoát của một tổ chức. Có hai loại kiểm soát:• Kiểm toán từ bên ngoài do một bộ phận kế toán độc lập ở ngoài tổ chứcthực hiện. Lối kiểm tra này là để bảo vệ những cổ đông. Đối với quảnlý thì nó chỉ có một tác dụng gián tiếp là làm những nhân viên kế toáncủa tổ chức phải nghiêm túc trong công tác kế toán của mình.• Kiểm toán từ bên trong thực hiện bởi những nhân viên kế toán của tổchức, bao gồm những công việc như kể trên. mặt khác còn có sự đánhgiá những hoạt động và chính sách của tổ chức cùng với những đề nghịcải thiện.Phân tích chi phí – ích lợi: kỹ thuật này hữu dụng khi những chi phí thì biếtrõ nhưng những tiêu chuẩn để những chi phí đó có khả năng so sánh thì mập mờhoặc khó đo lường, chẳng hạn như định xem những lợi ích của việc nghiên24cứu và phát triển có hơn những chi phí hay không? Việc sử dụng cách phântích này có thể phát hiện những sử dụng không hiệu quả của ngân quỹ.2.5.3. Kỹ thuật phân tích thống kê:Ngoài kỹ thuật lập ngân quỹ, kỹ thuật phân tích thống kê cũng có vai trò kháquan trọng trong quy trình thực hiện chức năng kiểm soát. Kỹ thuật nàyđược thực hiện trên cơ sở dựa vào các dữ liệu quá khứ, tổng hợp thành cácbiểu đồ hoặc đồ thị qua đó giúp cho các nhà quản trị đưa ra những nhận xét:• Xu thế phát triển của công ty trong quá khứ, những dự báocho thời gian tới.• Về mối liên lạc giữa các yếu tố trong quá trình phát triển.• Độ sai lệch so với các tiêu chuẩn đặt ra trong kế hoạch,…Nhìn chung kỹ thuật phân tích thống kê được dùng trong tất cả các chứcnăng và lĩnh vực quản trị công ty, ví dụ trong công tác thống kêmarketing nhờ sử dụng kĩ thuật phân tích thống kê, thông qua việc điều tramẫu với những bảng câu hỏi được thiết kế sẵn để phỏng vấn khách hàng, cácnhà thống kê có thể đưa ra những dự đoán về thị trường và về xu hướngcủa khách hang qua đó tạo cơ sở cho các quyết liệt kinh doanh.2.5.4. Các báo cáo và phân tích chuyên môn:Đây là hình thức kiểm soát được thực hiện bằng cách dùng các chuyênviên nghiên cứu từng lãnh vực chuyên sâu (chuyên gia về kế toán kiểm toán,tài chính, dự án, kĩ thuật và công nghệ,…) để có khả năng phát hiện những vấn đềmà công ty gặp phải trong từng lĩnh vực riêng biệt, trên cơ sở đó cónhững đề xuất sát thực. thực tế cho thấy việc dùng những phân tích chuyênmôn đưa lại những lợi ích thiết thực. Vì có những lĩnh vực phức tạp mà kiếnthức của nhà quản trị không bao quát hết được.252.5.5. Kiểm soát hành viNhững công việc quản trị thực hiện được bằng sự đóng góp của nhân viên. Vìvậy kiểm tra hành vi của họ sẽ gia tăng thực hiện tốt công việc được làm đúngcách. Nhưng làm cách nào nhà quản trị có thể chắc chắn là nhân viên đã thihành đúng như họ đã làm. Thường ngày nhà quản trị công việc của nhân viênvà sửa chữa ngay tại chỗ những sai sót của nhân viên, ví dụ như một nhânviên vận hành máy không đúng cách, một nhân viên khác rời nhiệmsở trướcgiờ về Một cách chính thức hơn là dùng sự đánh giá thực hiện một cáchcó hệ thốngCông việc đánh giá thực hiện, hành vi có thể so sánh với những tiêu chuẩntuyệt đối, những tiêu chuẩn tương đối, hoặc mục tiêu. Nó có thể được dùngnhư một tiêu chuẩn để đánh giá. Độ hiệu quả của những phương thức chọnlọc có khả năng có hiệu lực, và để xác định xem nhân viên có cần phải được huấnluyện không.Mỗi công việc của nhân viên đều có những tiêu chuẩn định sẵn để vạch rõnhững gì họ phải làm. Những tiêu chuẩn này phải rõ ràng và khách quan, vàphải cụ thể và có khả năng đo lường được.có khả năng sử dụng những tiêu chuẩn tuyệt đối, theo đó nhân viên được đánh giátheo một tiêu chuẩn cố định chứ không phải so sánh người này với ngườikhác. Lối cho điểm học sinh cũng là một cách cho điểm tuyệt đối theo bậcthang 20 hay10 điểm.Phương pháp thứ hai là dùng những tiêu chuẩn tương đối, tức là so sánhngười này với người khác. Những tiêu chuẩn tương đối tránh được một thiênkiến thổi phồng tất cả nhân viên trong đơn vị mình. Ví dụ một đơn vị có nămnhân viên, thì nhà quản trị phải xếp hạng họ theo thứ tự tương đối. Những

Mọi Người Xem :   Tìm hiểu về ý nghĩa hình xăm daruma - Đỗ Nhân Tattoo


Các câu hỏi về nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát


Các hình ảnh về nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu thêm dữ liệu, về nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát tại WikiPedia

Bạn nên xem nội dung về nội dung và ý nghĩa của các loại kiểm soát từ trang Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

💝 Nguồn Tin tại: https://khoalichsu.edu.vn/

💝 Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://khoalichsu.edu.vn/hoi-dap/

Mọi Người Xem :   Quả hồng xiêm tiếng Anh là gì

🏠 Quay lại trang chủ

Các bài viết liên quan đến