Yếu tố tiếng Việt là gì

Bài viết Yếu tố tiếng Việt là gì thuộc chủ đề về HỎi Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://khoalichsu.edu.vn/hoi-dap/ tìm hiểu Yếu tố tiếng Việt là gì trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “Yếu tố tiếng Việt là gì”

Xem thêm :  

Đánh giá về Yếu tố tiếng Việt là gì

Xem nhanh

Theo A. G. Haudricourt giải thích từ năm 1954, nhóm ngôn ngữ Việt-Mường ở thời kỳ khoảng đầu Công nguyên là những ngôn ngữ hay phương ngữ không thanh điệu. Về sau, qua quá trình giao thoa với Hoa ngữ và nhất là với các ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai vốn có hệ thống thanh điệu phát triển cao hơn, hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt xuất hiện và có diện mạo như ngày nay, theo quy luật hình thành thanh điệu. Sự xuất hiện các thanh điệu, bắt đầu khoảng thế kỷ thứ VI (thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam) với 3 thanh điệu và phát triển thêm vào khoảng thế kỷ XII (nhà Lý) với 6 thanh điệu. Sau đó một vài phụ âm đầu biến đổi cho tới ngày nay. Trong quá trình biến đổi, các phụ âm cuối rụng đi làm thay đổi các kết thúc âm tiết và phụ âm đầu chuyển từ lẫn lộn vô thanh với hữu thanh sang tách biệt.

Ví dụ[12] của A.G. Haudricourt.

Đầu Công nguyên(vô thanh điệu) Thế kỷ VI(3 thanh) Thế kỷ XII(6 thanh) Ngày nay pa pa pa ba sla, hla hla la la ba ba pà bà la la là là pas, pah pà pả bả slas, hlah hlà lả lả bas, bah bà pã bã las, lah là lã lã pax, paʔ pá pá bá slax, hlaʔ hlá lá lá bax, baʔ bá pạ bạ lax, laʔ lá lạ lạ

Trước thời Pháp thuộc

Xem thêm: Văn ngôn và Từ Hán Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập nước. Giai đoạn từ đầu Công nguyên, tiếng Việt có những âm không xuất hiện trong tiếng Trung. Từ khi tiếng Trung có tác động tới Việt Nam thông qua các con đường và bao gồm các giai đoạn khác nhau, tiếng Việt bắt đầu có những âm vay mượn từ tiếng Trung. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt chia quy trình tiếp xúc Hán Việt thành 2 giai đoạn chính:

  • Giai đoạn từ đầu Công nguyên đến đầu thời nhà Đường (đầu thế kỷ VIII), từ vựng tiếng Hán ảnh hưởng tới tiếng Việt trong giai đoạn này gọi là từ Hán cổ;
  • Giai đoạn từ thời nhà Đường (thế kỷ VIII thế kỷ X) trở về sau, từ vựng tiếng Hán tác động tới tiếng Việt trong giai đoạn này gọi là từ Hán Việt.

Từ Hán cổ và từ Hán Việt gọi chung là từ gốc Hán.

1 số từ ngữ Hán cổ có thể kể đến như “đầu”, “gan”, “ghế”, “ông”, “bà”, “cô”, “chè”, “ngà”, “chén”, “chém”, “chìm”, “buồng”, “buồn”, “buồm”, “mùi”, “mùa”… Từ Hán cổ là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt từ lâu hơn, đã đồng hoá mạnh hơn, nên những từ này Hiện tại là từ thông thường trong hoạt động xã hội đối với người Việt.

Hệ thống từ Hán Việt trong tiếng Việt bằng cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện có của tiếng Việt (tương tự như người Nhật Bản áp dụng kanji đối với chữ Hán và katakana với các tiếng nước ngoài khác). Hiện tại có 1945 chữ Hán thông dụng trong tiếng Nhật, cũng có khoảng 2000 từ HánHàn thông dụng). Số lượng từ vựng tiếng Việt có thêm hàng loạt các yếu tố HánViệt. Như là “chủ”, “ở”, “tâm”, “minh”, “đức”, “thiên”, “tự do”,… giữ nguyên nghĩa chỉ khác cách đọc; hay thay đổi ngay vị trí như “nhiệt náo” thành “náo nhiệt”, “thích phóng” thành “phóng thích”, “đảm bảo” thành “bảo đảm”…; hoặc rút gọn như “thừa trần” thành “trần” (trong trần nhà), “lạc hoa sinh” thành “lạc” (trong củ lạc, còn gọi là đậu phộng)…; hoặc đọc chệch đi như sáp nhập (chữ Hán: 插入) thành sát nhập, thống kế (統計) thành nghiên cứu, để kháng (抵抗) thành đề kháng, chúng cư (眾居) thành chung cư, bảo cô (保辜) thành báo cô, vãng cảnh (往景) thành vãn cảnh (晚景), khuyến mãi (勸買) thành khuyến mại (勸賣), vân vân; hay đổi khác nghĩa hoàn toàn như “phương phi” trong tiếng Hán có nghĩa là “hoa cỏ thơm tho” thì trong tiếng Việt lại là “béo tốt”, “bồi hồi” trong tiếng Hán nghĩa là “đi đi lại lại” sang tiếng Việt thành “bồn chồn, xúc động”… ngoài ra, người Trung Quốc gọi là Thái Sơn, Hoàng Hà, cổ thụ… thì người Việt lại đọc là núi Thái Sơn, sông Hoàng Hà, cây cổ thụ (mặc dù sơn = núi, hà = sông, thụ = cây)… Do tính quy ước của ngôn ngữ mà phần nào đó các cách đọc sai khác với tiếng Hán vẫn có ai đó chấp nhận và dùng trong khi các nhà thống kê ngôn ngữ tiếng Việt Hiện tại tương đương các bộ phận, các cấp quản lý, tổ chức xã hội nghề nghiệp lẫn các nhà khoa học Việt Nam có khả năng chưa tìm được tiếng nói chung trong việc chuẩn hoá cách dùng tên riêng và từ vựng mượn từ tiếng nước ngoài.[13] bên cạnh đó, có những từ có khả năng đã dùng sai như “quan ngại” sử dụng và hiểu như “lo ngại”, “vấn nạn” hiểu là “vấn đề nan giải”, “vô hình chung” thì viết thành “vô hình chung” hay “vô hình dung”, “việt dã” là “chạy dài”; “trứ tác” sử dụng như “sáng tác”,[14] “phong thanh” sử dụng như “phong phanh”, “bàng quan” sử dụng như “bàng quang”, “đào ngũ” sử dụng là “đảo ngũ”, “tham quan” thành “thăm quan”, “xán lạn” thành “sáng lạng”

Theo ước lượng của các nhà thống kê, từ Hán Việt chiếm khoảng trên dưới 70% vốn từ trong phong cách chính luận, khoa học (Maspéro thì cho rằng, chúng chiếm hơn 60% lượng từ tiếng Việt).[13][14] Tác giả Lê Nguyễn Lưu trong cuốn sách Từ chữ Hán đến chữ Nôm thì cho rằng về lĩnh vực chuyên môn và khoa học tỉ lệ này có khả năng lên đến 80% nhưng khi nhận xét về văn ngữ trong một cuốn tiểu thuyết thì chỉ còn 12,8%, kịch nói rút xuống còn 8,9% và ngôn ngữ nói chuyện hằng ngày còn thấp hơn nữa.[15]

Các từ và từ tố Hán Việt tạo ra các từ ngữ mới cho tiếng Việt như sĩ diện, phi công, bao gồm, sống động, sinh đẻ, vân vân. Trong khi tiếng Việt gọi là phát thanh (發聲) thì tiếng Hán lại gọi là 廣播 quảng bá; tiếng Việt gọi là truyền hình (傳形) thì tiếng Hán gọi là 電視 điện thị; tiếng Việt gọi là thành phố (城鋪), thị xã (市社) thì tiếng Hán gọi là 市 thị. Tiếng Việt đã lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình.

Kể từ đầu thế kỷ thứ XI, Nho học phát triển, việc học cổ văn gia tăng, tầng lớp trí thức mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt bằng cổ văn phát triển với các áng văn thư ví dụ như Nam quốc sơn hà bên sông Như Nguyệt (sông Cầu).

Cùng thời gian này, ai đó xây riêng 1 hệ thống chữ viết cho người Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết phát triển, đó là chữ Nôm. Để tiện cho việc học chữ Hán và chữ Nôm của người Việt, Ngô Thì Nhậm (17461803) đã biên soạn cuốn sách Tam thiên tự giải âm (còn gọi là Tam thiên tự, Tự học toản yếu). Tam thiên tự giải âm chỉ lược dạy 3000 chữ Hán, Nôm thông thường, đáp ứng mong muốn cần thiết, nhớ chữ, nhớ nghĩa từng chữ, mỗi câu 4 chữ. Hiệp vần cũng có điểm đặc biệt, tức là vần lưng (yêu vận, vần giữa câu). Tiếng thứ 4 câu đầu hiệp với tiếng thứ hai câu dưới rồi cứ thế mãi đến 3000 chữ, 750 câu. Ví dụ: Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa, cự cựa, nhé răng, vô chăng, hữu có, khuyển chó, dương dê,… Trần Văn Giáp đánh giá đây tuy chỉ là quyển sách dạy học vỡ lòng về chữ Hán như đã nêu ở trên nhưng thực ra cũng có khả năng coi nó chính là sách Từ điển Hán Việt thông thường và thường nhật ở cuối thế kỷ XVIII, cùng thời với các sách Chỉ nam ngọc âm, Chỉ nam bị loại và xuất hiện trước các sách Nhật dụng thường đàm, Thiên tự văn và Đại Nam quốc ngữ.[16]

✅ Mọi người cũng xem : tss trong nước thải là gì

Thời Pháp thuộc

Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ thứ XIX, tiếng Pháp dần thay thế vị trí của cổ văn, trở thành ngôn ngữ chính thức trong giáo dục, hành chính và ngoại giao. Chữ Quốc ngữ (chữ Latinh tiếng Việt), do một vài nhà truyền giáo châu Âu tạo ra, đặc biệt là hai tu sĩ người Bồ Đào nha Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa, với mục đích ban đầu là dùng ký tự Latinh ghi lại tiếng Việt, được chính quyền Pháp thuộc bảo hộ dùng nhằm thay thế chữ Hán với chữ Nôm để đồng văn tự với tiếng Pháp, dần dần sử dụng thường nhật trong xã hội cùng tiếng Pháp.

Gia Định báo là tờ báo đầu tiên mà phát hành bằng chữ Quốc ngữ tại Nam Kỳ vào năm 1865, đặt nền móng cho sự phát triển và chiều hướng của chữ Quốc ngữ như là chữ viết chính của tiếng Việt sau này.

ngoài ra, những khái niệm chính trị xã hội, kỹ thuật mới kéo theo việc nhập các ngôn từ, từ ngữ mới. Có 2 xu hướng về hình thức nhập ngôn từ là:

  1. Nhập từ phiên âm của ngôn ngữ phương Tây, chủ yếu là từ tiếng Pháp và có thể dùng bởi tầng lớp thị dân có khả năng vốn không thạo chữ Hán [17] như ghi đông, phanh, lốp, găng, pê đan, phuốc tăng (nay gọi là phuộc),…
  2. Nhập qua âm Hán Việt của chữ Hán từ tiếng Trung và tiếng Nhật (từ Hán-Việt gốc Nhật) như chính đảng, kinh tế, giai cấp, bán kính, câu lạc bộ,… Trong giới văn hoa thì các tên riêng phương tây mà sử dụng là từ Hán Việt như Á Căn Đình (Argentina), Nã Phá Luân (Napoleon),… hay Tòa Bạch Ốc (Nhà Trắng),…

Sau năm 1945

Tiếng Việt thay thế hoàn toàn tiếng Pháp và cổ văn, trở thành ngôn ngữ làm việc cấp quốc gia duy nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, sự phát triển tiếng Việt trong chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam diễn ra có khác nhau, chủ yếu ở dùng từ Hán-Việt và phiên âm tên trong tiếng nước ngoài.

Tại miền Bắc có xu hướng chuyển sang sử dụng từ thuần Việt thay thế từ Hán Việt cùng nghĩa còn ở miền Nam thì vẫn giữ nguyên việc sử dụng từ Hán Việt như thời trước 1945. Ví dụ như miền Nam vẫn giữ tên “Ngân hàng Quốc gia” trong khi miền Bắc đổi thành “Ngân hàng Nhà nước” (1960), miền Nam gọi là “phi trường” thì miền Bắc gọi là “sân bay”, miền Nam gọi là “Ngũ Giác Đài” thì miền Bắc gọi là “Lầu Năm Góc”, miền Nam gọi là “Đệ nhứt thế chiến” thì miền Bắc gọi là “Chiến tranh thế giới thứ nhất”, miền Nam gọi là “hỏa tiễn” thì miền Bắc gọi là “tên lửa”, miền Nam gọi là “thủy quân lục chiến” còn miền Bắc đổi thành “lính thủy đánh bộ”,… Ngược lại ở miền Bắc lại sử dụng một vài danh từ bắt nguồn từ tiếng Hán như “tham quan”, “sự cố”, “nhất trí”, “đăng ký”, “đột xuất”, “vô tư”,… thì miền Nam lại dùng những chữ “thăm viếng”, “trở ngại/trục trặc”, “đồng lòng”, “ghi tên”, “bất ngờ”, “thoải mái”,…

Mọi Người Xem :   Khẩu trang giấy kk là gì

Việc phiên âm tên tiếng nước ngoài thì ở miền Nam vẫn theo cách trước 1945 là sử dụng tên theo từ Hán Việt, như Băng đảo (Iceland), Úc Đại Lợi (Australia), Hung Gia Lợi (Hungary), Ba Tây (Brazil),… Tại miền Bắc thì chuyển sang phiên âm trực tiếp thành Ai-xơ-len, Ô-xtrây-li-a, Hung-ga-ri,… và trừ ra các tên Hán Việt của một số đối tượng phổ biến, ví dụ như “Pháp”, “Đức”, “Anh”, “Nga”,… Cá biệt (có khả năng là duy nhất) 1 tên tiếng Trung là Zhuang (người Tráng) “phiên âm trực tiếp” thành Choang trong tên gọi chính thức “Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây”.[18][note 1]

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, quan hệ Bắc-Nam đã kết nối lại. Gần đây, sự phổ biến hơn của các phương tiện truyền thanh và truyền hình trên toàn quốc góp phần chuẩn hóa tiếng Việt về chính tả và âm điệu. Từ Hán Việt và từ thuần Việt được người Việt sử dụng song song tùy thuộc ngữ cảnh hay văn phong. Sự di cư để học tập và làm việc giữa các vùng miền giúp mọi người ở Việt Nam được tiếp xúc và hiểu thường xuyên hơn với các phương ngữ tiếng Việt. tuy nhiên với sự tiến triển của internet và toàn cầu hóa, ảnh hưởng của tiếng Anh ngày càng lớn, người Việt Hiện tại thường viết từ ngoại lai với xu hướng viết theo tiếng Anh (như video) thay vì viết theo âm đọc của tiếng Việt (vi-đê-ô) vì cùng sử dụng chữ Latinh, và đang có thói quen dùng từ vựng hay tên dịch sang tiếng Anh thường xuyên hơn, có khi lấn át các từ vựng hay tên tiếng Việt sẵn có hoặc đã dịch có nghĩa (ví dụ như manga Kimetsu no Yaiba đã được phát hành dưới tên tiếng Việt là “Thanh gươm diệt quỷ” nhưng báo chí Việt lại dùng tên tiếng Anh “Demon Slayer” khi viết bài[19]). Những người làm việc ở mảng báo chí và phương thuận tiện truyền thông đôi khi đưa tên riêng nước ngoài đưa vào tiếng Việt lại thiếu tìm hiểu và chọn lọc (phát âm sai dựa theo âm tiếng Anh thay vì từ âm của ngôn ngữ gốc, dịch trung gian tên riêng qua tiếng Anh hoặc tiếng Trung), khiến mọi người theo dõi cũng sử dụng sai theo, trải qua một thời gian dài thì “sai thường xuyên thành quen” nên rất khó sửa lại đúng tương ứng với ngôn ngữ gốc được. Ví dụ: truyền thông Việt Nam hay dùng nguồn tin tiếng Anh thay vì tiếng Nhật, làm cho tên người Nhật Bản vốn theo thứ tự “họ tước tên sau” trong tiếng Nhật lại bị viết đảo ngược thành “tên trước họ sau” vào trong tiếng Việt (mặc dù không có luật yêu cầu đảo ngược họ tên), khiến thủ tướng Suga Yoshihide bị viết và gọi ngược thành “Yoshihide Suga”[20]; diễn viên Dilraba Dilmurat hay bị gọi là “Địch Lệ Nhiệt Ba” dù cô là người Uyghur, tên của cô là chuẩn tiếng Uyghur không thuộc vùng văn hóa Đông Á (nghĩa là vốn không thể viết bằng chữ Hán), nhưng truyền thông Việt lại sử dụng tên theo âm Hán-Việt của chữ Hán qua âm Quan thoại mà người Trung Quốc phiên âm tên cô; huấn luyện viên Park Hang-seo khi mới được bổ nhiệm huấn luyện tuyển Việt Nam, hay bị truyền thông Việt đọc tên là “Pác Hang Xeo”[21][22], phải có bài đính chính và mất một thời gian thì cách đọc mới được sửa lại thành “Pắc Hang-so” hay “Pắc Hang-sơ” cho đúng âm tiếng Hàn[22].

Phân bố độ thường nhật của tiếng Việt trên lãnh thổ Việt Nam. Trong đó các khu vực màu vàng nhạt là các khu vực sử dụng tiếng dân tộc bản địa trong đời sống là nhiều hơn so với tiếng Việt.

Theo Ethnologue, tiếng Việt có tại Anh, Ba Lan, Campuchia, Côte d’Ivoire, Đức, Hà Lan, Lào, Na Uy, Nouvelle-Calédonie, Phần Lan, Pháp, Philippines, Cộng hòa Séc, Sénégal, Thái Lan, Vanuatu, Đài Loan, Nga… Riêng Trung Quốc có người Kinh bản địa ở Đông Hưng, tiếng Việt của họ có pha trộn âm giọng của các ngôn ngữ Hán (Quan thoại, tiếng Quảng Đông,…).

Tiếng Việt là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc vì người Việt được công nhận là “dân tộc thiểu số” tại Séc.[23]

Phương ngữ

Bài cụ thể: Phương ngữ tiếng Việt

Tiếng Việt có sự thay đổi trong giọng nói từ Bắc vào Nam, không đột ngột mà tiệm tiến dần theo từng vùng liền nhéu. Trong đó, giọng Bắc (Nam Định Thái Bình),[note 2] giọng Trung Huế và giọng Nam Sài Gòn là 3 phân loại chính. Những tiếng địa phương này khác nhéu ở giọng điệu và từ địa phương. Thanh ngã và thanh hỏi ở miền Bắc rõ hơn ở miền Nam và Trung. Miền Bắc phát âm một vài phụ âm (tr, ch, n, l…) khác với miền Nam và miền Trung. Giọng Huế có nhiều từ vựng địa phương hơn những giọng khác. Từ điển Việt-Bồ-La (1651) của Alexandre de Rhodes lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng.[24] Theo trang thông tin của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc[25] và học giả Laurence Thompson[26] thì cách đọc tiêu chuẩn hiện nay dựa vào giọng Hà Nội. mặc khác, chưa có quy định nào nói rằng giọng Hà Nội là chuẩn quốc gia.[27]

Giọng chuẩn Nơi dùng Giọng miền Bắc (Giọng chuẩn Hà Nội) Bắc Bộ Giọng miền Trung Bắc Trung Bộ Giọng miền Nam (Giọng chuẩn Sài Gòn) Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ Giọng địa phương Nơi thể hiện Giọng Hà Nội Hà Nội và vùng phụ cận Giọng Đông Bắc Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định Giọng Thanh Hóa Thanh Hóa Giọng Nghệ-Tĩnh Nghệ An, Hà Tĩnh Giọng Bình-Trị-Thiên Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Giọng Quảng Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi Giọng Nẫu Bình Định, Phú Yên Giọng Nam Trung Bộ Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng Giọng Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Giọng miền Tây Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Giọng dân tộc thiểu số[cần dẫn nguồn] Các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên Đặc trưng trong giọng các vùng miền Miền Bắc Miền Trung Miền Nam này ni, nì nè thế này ri nè vầy, như vầy ấy nớ, tê đó thế, thế ấy rứa, rứa tề, rứa đó vậy, vậy đó kia tê đó kìa tề đó đâu mô đâu nào mồ nào sao, thế nào răng sao tôi tui tui tao tau tao Chúng Tôi bọn tui tụi tui chúng tao bọn tau tụi tao mày mi mầy chúng mày bây, bọn bây tụi bây nó hấn nó chúng nó bọn hấn tụi nó ông ấy ông nớ ổng bà ấy bà nớ bả cô ấy dì nớ cổ chị ấy chị nớ chỉ anh ấy anh nớ ảnh

Bài cụ thể: Ngữ âm tiếng Việt

✅ Mọi người cũng xem : ý nghĩa món gà luộc

Nguyên âm

Dưới đây là bảng các nguyên âm theo giọng Hà Nội.

Trước Giữa Sau Đóng i [i] ư [ɨ] u [u] Nửa đóng ê [e] ơ [əː] ô [o] Nửa mở e [ɛ] â [ə] o [ɔ] Mở ă [a] / a [aː]

Trong bảng trên, các nguyên âm trước, giữa và nguyên âm mở là nguyên âm không tròn môi, còn lại là nguyên âm tròn môi. Ă và â là dạng ngắn của a và ơ.

Đồng thời, tiếng Việt còn có hệ thống nguyên âm đôi và nguyên âm ba.

Phụ âm

Bảng dưới đây trình bày các phụ âm trong tiếng Việt và cách viết.

Môi Chân răng Quặt lưỡi Vòm Vòm mềm Thanh hầu Mũi m [m] n [n] nh [ɲ] ng/ngh [ŋ] Tắc thường p [p] t [t] tr [ʈʂ~ʈ] ch [c~tɕ] c/k/q [k~q] thanh hầu hóa b [ɓ] đ [ɗ] bật hơi th [tʰ] kh [x~kʰ] Xát vô thanh ph [f] x [s] s [ʂ] h [h] hữu thanh v [v] d [z~j] r [ʐ~ɹ] gi [z~j] g/gh [ɣ] Tiếp cận u/o [w] l [l] y/i [j]

1 số phụ âm chỉ có một cách viết (như b, p) nhưng một vài có nhiều hơn một cách viết như k, có thể biểu diễn bằng c, k hay q. Đồng thời, các phụ âm có thay đổi tuỳ theo địa phương. Sự khác biệt về phụ âm giữa các vùng miền trình bày kỹ càng hơn trong bài phương ngữ tiếng Việt.

✅ Mọi người cũng xem : cách nấu canh nấm đậu hũ chay

Thanh điệu

Dấu thanh trong tiếng Việt Dấu Chữ mẫu ngang a Vi ngang tone.ogg sắc á Vi sac tone.ogg huyền à Vi huyen tone.ogg hỏi ả Vi hoi tone.ogg ngã ã Vi nga tone.ogg nặng ạ Vi nang tone.ogg

Tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của tiếng Việt luôn mang 1 thanh điệu nào đó. Do các thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ biểu thị bằng các dấu thanh còn gọi là dấu nên một vài người quen gọi các thanh điệu của tiếng Việt là các “dấu”. Có sự khác biệt về số lượng thanh điệu và điệu trị của thanh điệu giữa các phương ngôn của tiếng Việt, thanh điệu có tên gọi giống nhéu không đồng nghĩa với việc nói chúng sẽ giống nhéu trong mọi phương ngôn của tiếng Việt. Phương ngôn tiếng Việt Bắc Bộ có 6 thanh điệu, phương ngôn tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ có 5 thanh điệu. Thanh điệu của tiếng Việt tiêu chuẩn gồm 6 thanh: ngang (còn gọi là thanh không dấu do chữ quốc ngữ không có dấu thanh cho thanh điệu này), sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng nhưng lại thiếu các quy định chi tiết về việc lấy cách phát âm trong phương ngôn nào của tiếng Việt làm cách phát âm tiêu chuẩn cho 6 thanh điệu này.

Các âm tiết mang vần nhập thanh, tức là các vần kết thúc bằng 1 trong 3 phụ âm cuối /k/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái “c” hoặc chữ cái nhị hợp “ch”), /t/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái “t”), /p/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái “p”) chỉ có khả năng mang thanh sắc hoặc thanh nặng. 3 âm tắc trên đã làm cho các âm tiết mang vần nhập thanh chỉ có khả năng mang các thanh điệu có điệu trị ngắn và nhanh.

Trong thơ ca các thanh điệu phân thành 2 nhóm: thanh bằng gồm có ngang và huyền, thanh trắc gồm các thanh còn lại. Trong các thể thơ cổ như Đường luật và lục bát, có khả năng có sự hòa hợp thanh điệu bằng trắc giữa các tiếng trong 1 câu thơ.

✅ Mọi người cũng xem : quả lựu đọc tiếng anh là gì

Ngữ pháp

Bài cụ thể: Ngữ pháp tiếng Việt

Tiếng Việt là 1 ngôn ngữ đơn lập. Các quan hệ ngữ pháp thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống hư từ và cách sắp xếp trật tự từ trong câu. Trật tự từ thông dụng nhất trong tiếng Việt là chủ ngữ – vị ngữ – phụ ngữ (SVO). mặc khác, trật tự trong câu có khả năng trong một số trường hợp sắp xếp theo kiểu ngôn ngữ nổi bật chủ đề, vì vậy mà 1 câu có thể theo trật tự Phụ ngữ – Chủ ngữ – Vị ngữ (OSV).

Mọi Người Xem :   Ý nghĩa của các loài hoa lan

Vị trí các từ sắp xếp theo thứ tự, từ mang ý chính đứng trước từ mang ý phụ đứng sau bổ sung nghĩa cho từ mang ý chính, tương tự như danh từ đứng trước tính từ đứng sau bổ sung nghĩa cho danh từ. mặc khác trong một vài trường hợp, bổ ngữ (bao gồm từ mang ý phụ và tính từ) sẽ đứng trước danh từ.

Tiếng Việt còn có hệ thống đại từ nhân xưng dựa trên các từ ngữ chỉ quan hệ xã hội và hệ thống danh từ đơn vị.

✅ Mọi người cũng xem : ý nghĩa hình xăm maneki neko

Từ vựng

Bài chi tiết: Từ vựng tiếng Việt

Từ vựng tiếng Việt có 2 bộ phận chính: từ thuần Việt và từ mượn. mặt khác còn có những từ hỗn chủng là kết quả của sự kết hợp các yếu tố thuần Việt và ngoại lai.

Từ thuần Việt

Bài chi tiết: Từ thuần Việt

Từ thuần Việt là những từ xuất hiện lâu hơn trong tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất trong đời sống hằng ngày. Do có sự tiếp xúc từ sớm hơn với các ngôn ngữ nhóm Tày-Thái nên nhiều từ thuần Việt và các từ tương ứng trong các tiếng này có sự giống nhéu nhất định về ngữ âm và ngữ nghĩa.[28]

Trước 1960, một vài từ thuần Việt dùng để đặt tên thông tục cho người trong tầng lớp bình dân hoặc để tránh bị ma quỷ thần thánh bắt đi. Tại miền Bắc có các tên như “Rụt”, “Tằm”, “Cột”, “Cu”, “Gái”,… Tại miền Nam có các tên như “Đực”,… Sự phát triển dân trí kéo theo cách đặt tên thông tục hạn chế dần.

Từ Hán Việt

Bài cụ thể: Từ Hán Việt

Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu khi nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm khu vực Việt Nam. quá trình tiếp xúc đã đưa vào tiếng Việt một khối lượng từ ngữ của tiếng Hán. Giai đoạn đầu, hiện tượng này diễn ra lẻ tẻ, rời rạc hơn chủ yếu thông qua đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc giữa người Việt và người Hán, tạo nên 1 lớp từ có nguồn gốc Hán cổ mà đã hoà lẫn với các từ thuần Việt.[29] Đến đời Đường, tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua đường sách vở. Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu đọc theo ngữ âm đời Đường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là âm HánViệt. Khi đưa vào tiếng Việt, bên cạnh việc thay đổi về mặt ngữ âm, một vài từ Hán Việt thay đổi cả ngữ nghĩa.[29]

Từ Hán-Việt chiếm 1 phần trong vốn từ vựng tiếng Việt. Chúng hiện diện một số lĩnh vực của đời sống xã hội. Người Việt ở tầng lớp trung lưu trở lên đặt tên người theo từ Hán Việt như Sơn, Thủy, Phong,… phân biệt với nhóm bình dân “quê mùa” đặt tên theo tiếng thuần Việt như Núi, Nước, Gió,… Có những người có xu hướng đặt các nghệ danh theo tên Hán Việt như Nhật Kim Anh, Lý Nhã Kỳ, Quang Lê, Ngô Kiến Huy.

Nhờ cuộc vận động giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt việc sử dụng từ Hán Việt đã có sự chọn lọc hơn, có xu hướng thay thế bằng từ thuần Việt khi có thể. Trong bức thư gửi cho Hồ Mộ La vào năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Răng không kêu chú là chú Minh, lại kêu bằng “Minh thúc”. Tiếng ta có, thì nên dùng tiếng ta, như rứa phổ thông hơn, phải không cháu?”.[30] Hồ Chí Minh cũng đề xuất thay thế các từ “giám mã” bằng “giữ ngựa”…

✅ Mọi người cũng xem : ý nghĩa hình ảnh con đường chia đôi nghĩa địa

Từ có nguồn gốc ẤnÂu

Bài cụ thể: Từ mượn và Vinish

Kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, tiếng Pháp đã có gây ảnh hưởng tiếng Việt và các từ ngữ gốc Pháp thâm nhập vào tiếng Việt. Sự ảnh hưởng này là do tiếng Pháp có dùng trong các văn bản, giấy tờ của Nhà nước và trong giảng dạy ở nhà trường cũng như trong các loại sách báo khác. Ảnh hưởng này dẫn đến sự xuất hiện của các từ gốc Pháp trong các lĩnh vực khác nhéu đặc biệt là trong khoa học kỹ thuật.

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc Việt Nam chịu tác động của Liên Xô. Vì vậy, một số từ ngữ gốc Nga có điều kiện du nhập vào tiếng Việt. Đồng thời, cùng với sự tiếp xúc, hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, trong tiếng Việt cũng xuất hiện các từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng Anh.

Nhìn chung, khi đưa vào tiếng Việt, những từ này đã Việt hoá về mặt âm đọc (thêm thanh điệu, thay đổi ngay âm hoặc giảm bớt âm tiết). Những từ đơn âm tiết (hoặc đơn âm hoá), vay mượn qua khẩu ngữ thâm nhập vào tiếng Việt. trong khi đó, những từ có 2 âm tiết trở lên, vay mượn thông qua sách vở vẫn còn dấu ấn ngoại lai.[31] Có những từ vay mượn nguyên dạng nên tạo ảnh hưởng trong cách phát âm.

Từ có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số

Là 1 nước đa sắc tộc với 54 dân tộc đã công nhận, tiếng Việt phổ thông tiếp nhận 1 phần tiếng dân tộc thiểu số, gồm từ thông dụng và tên riêng của người hay địa vật và các từ này có khả năng có vần “phi Việt”. quy trình này diễn ra trong lịch sử. Dựa theo tên người/danh xưng đăng tải trên báo chí và các địa danh trên các bản đồ hành chính, chúng ta có thể phân loại các cách nhập tiếng dân tộc thiểu số như sau:[32]

  1. Từ tiếng nói của hầu hết các dân tộc từ Quảng Bình trở ra, đã cư trú lâu hơn cùng người Kinh và/hoặc thuộc vùng Văn hóa Đông Á, như người Mường, Tày, Nùng, Thái,… thì họ tên người thì theo từ Hán Việt như các họ “Triệu”, “Đàm”, “Cầm”, “Đèo”,…, còn địa danh thì theo ghi âm như “Nậm”, “Huổi/ Khuổi”, “Pắc”,… Đôi khi sự giao lưu với người Kinh kéo theo những tên hỗn hợp như Hang Bua (tên tiếng Thái là Thẩm Bua, nghĩa là Hang Sen).[33]
  2. Từ tiếng H’Mông thì theo ghi âm mà không theo từ Hán Việt, mặc dù tiếng H’Mông có quan hệ gần hơn với tiếng Hoa. Ví dụ như các họ Vàng (Vương, Vang), Giàng (Dương, Yang),… hay các địa danh như Lao Cai (nghĩa chữ là Chợ Cũ, từ Hán Việt là Lão nhéi 老街), Sa Pa (Sa Pả, nghĩa chữ là Bãi Cát),… Trường hợp loại trừ là họ tên vua Mèo mà dùng từ Hán Việt như Vương Chí Sình.
  3. Từ tiếng nói của các dân tộc ở Tây Nguyên, Nam Bộ,… thì theo ghi âm là chính, như Đăk Lăk, Krông Pắk,… hoặc biến âm như Sóc Trăng, nha Trang,… Cá biệt có việc giới chức biên phòng đã “Kinh hóa” địa danh đặt tên đồn biên phòng, ví dụ tại xã Pờ Y có Đồn/Cửa khẩu Bờ Y.

Các chữ và vần “phi Việt” viết theo hướng dẫn trong quyết định 240/QĐ “Về tên riêng không phải tiếng Việt”,[8] trong đó các chữ cái F, J, W, Z có thể tùy nghi sử dụng.

Từ hỗn chủng

Từ hỗn chủng là những từ tạo thành từ các yếu tố có nguồn gốc khác nhau như giữa yếu tố thuần Việt và Hán Việt, giữa yếu tố thuần Việt và yếu tố Ấn-Âu. Cùng với sự phát triển của tiếng Việt, các từ hỗn chủng đã gia tăng, đóng 1 vai trò trong việc diễn đạt các khái niệm mới hơn trong xã hội.

Ví dụ:

  • vôi hoá (Hán-Nôm: 𥔦化) “vôi” là thuần Việt, “hoá” là Hán-Việt.
  • ôm kế “ôm” là từ tiếng Đức Ohm, “kế” là Hán-Việt.
  • nhà băng “nhà” là thuần Việt, “băng” là từ tiếng Pháp banque.
  • game thủ “game” là tiếng Anh, “thủ” là Hán-Việt.

Chữ viết

Xem thêm: Chữ viết tiếng Việt

“Tôi nói tiếng Việt Nam” (碎呐㗂越南), bên trên viết bằng Chữ Quốc ngữ (chữ Latinh), bên dưới viết bằng chữ Nôm (gạch chân) với chữ Hán

Truyện Nôm Phan Trần, bản in năm 1902, viết dọc.

Một trang Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum tức Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651

Theo dòng lịch sử phát triển, tiếng Việt có 2 dạng ký tự để viết:

  • Chữ Hán và Chữ Nôm
  • Chữ Quốc ngữ (chữ Latinh)

Chữ Hán và chữ Nôm (đôi khi được gọi chung là chữ Hán Nôm) là văn tự chính của tiếng Việt trước thế kỷ 20, được người Việt xưa kết hợp lại để sử dụng như là một dạng chữ viết phổ thông cho tiếng Việt khi đó. Là các bộ chữ biểu nghĩa giúp tránh sự đồng âm khác nghĩa, chữ Hán (chủ yếu là phồn thể) dùng để viết từ Hán Việt và âm Hán Việt như “nhất nhị tam”(一二三), “Đại Việt” (大越), “Việt Nam” (越南); chữ Nôm dùng để viết các từ thuần Việt và các âm thuần Việt như “một hai ba” (𠬠𠄩𠀧). Vì từng chữ đều được cấu tạo từ các bộ thủ và viết trong diện tích ô vuông giống nhéu, chữ Hán và chữ Nôm dù viết dọc hay viết ngang đều không bị lệch hàng. Kiểu viết chủ yếu của người Việt xưa là viết dọc truyền thống, hàng dóng từ phải sang trái. Các tác phẩm thời kỳ trung đại của Việt Nam đều được ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm, tiêu biểu có Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán hay Truyện Kiều của Nguyễn Du sáng tác bằng chữ Nôm.

Chữ Quốc ngữ là chữ Latinh, thuần tượng thanh nên không có khả năng biểu nghĩa, do mỗi chữ cái có chiều cao và chiều dày khác nhéu, số chữ cái trong mỗi từ đơn là không giống nhéu nên chỉ có khả năng viết ngang, vì viết dọc sẽ bị lệch hàng. Chữ Quốc ngữ dựa trên bảng chữ cái Latinh và âm vị của tiếng Bồ Đào nha đối chiếu với tiếng Việt, do các nhà truyền giáo Dòng Tên Bồ Đào nhé xây dựng vào đầu thế kỷ 17 rồi do giáo sĩ Alexandre de Rhodes người Avinhon chuẩn định.[34] Đây là người cho in cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum năm 1651. Cuối thế kỷ 18 tại Đàng Trong diễn ra cuộc chỉnh lý chữ Quốc ngữ dưới sự điều phối của Giám mục Bá Đa Lộc, từ điển có tên Dictionarium Anamatico-Latinum soạn quãng năm 17721773 nhưng mới chỉ là bản viết tay. Sau đó, từ điển của Taberd mang tên Nam ViệtDương Hiệp Tự vị (tựa Latinh giống với tựa cuốn của Bá Đa Lộc) xuất bản năm 1838 tại Serampore, Ấn Độ.

Chữ Quốc ngữ từ lúc ra đời tuy có hơn 200 năm hình thành và phát triển, nhưng chưa đủ thường nhật để là văn tự chính ở Việt Nam vì chữ Nôm và chữ Hán vẫn là dạng văn tự chính của tiếng Việt trong hàng trăm năm qua, đang được mọi người trong xã hội sử dụng thường nhật nên không có lý do gì phải bị thay thế. Phải đến cuối thế kỷ 19, vào thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa bảo hộ chữ Quốc ngữ và cổ súy thay thế chữ Hán Nôm để tiếng Việt đồng văn tự Latinh với tiếng Pháp, bắt đầu từ Nam Kỳ rồi tới Bắc Kỳ và Trung Kỳ để đơn giản phổ biến tiếng Pháp và văn hóa Pháp. Còn các nhà cải cách Việt Nam ủng hộ việc truyền bá hệ chữ Latinh như phương tiện để khai dân trí, chấn dân khí. Cải cách giáo dục năm 1906 của vua Thành Thái cũng bao gồm chương trình dạy chữ Quốc ngữ. Tuy vậy trong giai đoạn này, sự bóc lột của Thực dân Pháp khiến người Việt không được đi học đầy đủ, nên hầu hết người Việt giai đoạn này trở nên mù chữ với cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Ngay sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập quốc, Chính phủ phát động Bình dân học vụ với mục tiêu nhanh chóng giải quyết nạn mù chữ bằng cách đẩy mạnh dạy chữ Quốc ngữ cho người dân. Chữ Hán và chữ Nôm vẫn được một lượng người Việt dùng song song cùng chữ Quốc ngữ, nhưng đến năm 1950, giảng dạy chữ Hán Nôm bị loại ra khỏi chương trình giáo dục của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì độ thường nhật ở Việt Nam không còn nhiều.[35]

Mọi Người Xem :   Đối tượng thống kê và Khách thể thống kê là gì? Có bao nhiêu phạm vi thống kê

Tại Việt Nam hiện nay, người dân chủ yếu dùng chữ Quốc ngữ là chính, còn chữ Hán và chữ Nôm thường dùng trong các hoạt động liên quan tới văn hóa truyền thống như viết thư pháp, câu đối, tìm hiểu lịch sử và văn học cổ, và được giảng dạy trong chuyên ngành Hán Nôm bậc ĐH cũng như tại các tổ chức phong trào dạy học chữ Hán và chữ Nôm được sử dụng trong tiếng Việt. Trái ngược lại là cộng đồng người Kinh bản địa ở Đông Hưng (Trung Quốc), do không bị ảnh hưởng bởi chính sách thay thế chữ Hán và chữ Nôm bằng chữ Quốc ngữ của Thực dân Pháp (vùng đất họ sống trở thành lãnh thổ Đại Thanh theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887, nên họ không bị Thực dân Pháp đô hộ), những thế hệ con cháu ở đây không bị gián đoạn chuyện đi học và không bị mù chữ. Người Kinh bản địa ở Đông Hưng vẫn duy trì được sự phổ biến của chữ Hán và chữ Nôm trong cộng đồng và vẫn dùng làm văn tự chính cho tiếng Việt ở thời hiện đại giống như người Việt xưa, thay vì sử dụng chữ Latinh như người Việt ở Việt Nam Hiện tại.[36]

Hiến pháp 2013 tại Chương I Điều 5 Mục 3 quy định: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”, do vậy không có luật lệ hay quyền hành vi hiến nào cấm người Việt hiện nay viết tiếng Việt bằng chữ Hán và chữ Nôm như người Việt xưa.

Thư pháp

Xem thêm: Thư pháp Đông Á §Thư pháp Việt Nam

Cùng với chữ Hán, Kana và Hangul, có người “yêu thích” thư pháp nâng chữ viết tiếng Việt lên thành một bộ môn nghệ thuật.

Thư pháp chữ Việt ban đầu là thư pháp chữ Nôm và chữ Hán. Sau này chữ Quốc ngữ trở nên thường nhật hơn trong khi nhu cầu và sở thích treo chữ trong nhà vẫn còn, người chơi chữ đã khởi xướng thư pháp chữ Quốc ngữ. Còn thư pháp chữ Hán và chữ Nôm hiện nay vẫn duy trì song song.

✅ Mọi người cũng xem : ong vàng làm to trong nhà báo điềm gì

Bộ gõ tiếng Việt và giao tiếp tiếng Việt qua mạng

Bài chi tiết: Bộ gõ tiếng Việt

Xem thêm: Tiếng Việt và máy tính

Tuy cùng là chữ Latinh, ngoài 22 ký tự không dấu có trong bảng chữ cái tiếng Anh thì chữ Quốc ngữ còn chứa lượng ký tự có dấu, bao gồm 7 ký tự Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư cùng 60 chữ nguyên âm (A, Ă, Â, E, Ê, I, O, Ô, Ơ, U, Ư, Y) mang thanh điệu sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng. Tổng cộng là máy tính hay điện thoại cần phải nạp thêm 67 ký tự, gấp hơn 2,5 lần bảng chữ cái của tiếng Anh (26 ký tự) thì mới đủ để viết tiếng Việt. Nên để có khả năng viết tiếng Việt trên máy tính và điện thoại di động cần có bộ gõ là phần mềm hỗ trợ soạn thảo văn bản bằng tiếng Việt đi kèm một số phông chữ Quốc ngữ. Người sử dụng cũng có thể cài đặt thêm các phông ký tự chữ Quốc ngữ khác đáp ứng trang trí và nghệ thuật. Các bộ gõ tiếng Việt khác nhau sẽ quy định các phím bấm khác nhéu để hiển thị các dấu thanh, dấu mũ và dấu móc. Có những quy ước chuẩn dấu tiếng Việt, bộ mã, cách gõ và những phần mềm khác nhau. Có bộ mã chữ Việt theo chuẩn quốc tế Unicode.

Do ký tự có dấu phải mã hóa mất lượng bộ nhớ lớn hơn ký tự không dấu, việc tin nhắn SMS bằng tiếng Việt có dấu bị hạn chế 70 ký tự/tin nhắn (ít hơn một nửa so với 180 ký tự/tin nhắn của tiếng Anh) nên trước đây người Việt thường nhắn tin SMS không dấu để có thể viết nhiều nội dung hơn và tiết kiệm tiền hơn dù nội dung bằng tiếng Việt không dấu có khả năng gây ra hiểu nhầm. một số trường hợp lợi dụng viết tắt, biến đổi ký tự nhằm hạn chế số lượng (j=gi; f=ph; bỏ h trong “gh”,”ngh”) hay thể hiện rõ âm (z=d vì “đ” viết không dấu thành “d”). Hiện tại nhờ sự phát triển của Internet trên di động (như Wi-Fi, 4G không giới hạn dung lượng) cùng các ứng dụng OTT và mạng xã hội, việc nhắn tin bằng tiếng Việt có dấu trở nên thoải mái hơn mà không lo bị Giảm ký tự.

Đối với việc gõ chữ Hán và chữ Nôm bằng tiếng Việt, do dạng ký tự này hiện không được dùng phổ biến ở Việt Nam nên các hãng sản xuất máy tính, điện thoại hay phần mềm coi như loại bỏ. Thời gian gần đây để phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu về lịch sử hay văn học cổ tương đương chuyên ngành Hán Nôm, một số cá nhân hay tổ chức đã tạo ra những trang web hay phần mềm giúp viết chữ Hán và chữ Nôm bằng bộ gõ chữ Quốc ngữ. Với chữ Hán do đồng bộ với các chữ của bộ gõ tiếng Trung và tiếng Nhật nên việc hiển thị không điều kiện, còn chữ Nôm do một lượng chữ chưa được mã hoá đầy đủ nên có thể hiển thị bị lỗi trên một vài máy tính và điện thoại dưới dạng ô vuông hay dấu hỏi chấm.

Chú thích

  1. ^ Tên gọi “Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây” xuất hiện trên Báo ảnh Trung Quốc cỡ năm 1958, do biên tập viên của báo trú tại Hà Nội đã phiên âm trực tiếp từ Zhuang theo giọng Hà Nội thành Choang mà lẽ ra phải là Troang hay Truang. Giới chức Quảng Tây dùng tên này khi sang làm việc với bên Việt Nam.
  2. ^ Giọng Bắc ví dụ như giọng vùng Nam Định – Thái Bình (trừ ra chỗ nói ngọng l-n) và trước đây có thể coi là giọng chuẩn tiếng Việt. Giọng Hà Nội nói nhẹ hơn, không phân biệt s-x, gi-d, ch-tr,… có khả năng không xem nó là chuẩn và đặc trưng của vùng. Có người nước ngoài đến học tập tại Hà Nội đã bị nhiễm giọng này và coi là giọng đặc trưng của tiếng Việt.

✅ Mọi người cũng xem : ý nghĩa của tấm trần điều

Tham khảo

  1. ^ a b Có người tranh luận là nhánh Việt-Mường là nhánh tách biệt, chứ không nằm ở dưới nhánh Môn-Khmer và hệ Nam Á, nhưng phân loại bên trên vẫn được công nhận thông thường.
  2. ^ Thế đứng của tiếng Việt trong thời kỳ hội nhập quốc tế Hiện tại. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012.
  3. ^ Česko má nové oficiální národnostní menšiny. Vietnamce a Bělorusy – iDNES.cz
  4. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin biên tập (2013). Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology. Đã bỏ qua tham số không rõ |chapterurl= (trợ giúp)
  5. ^ Lê Bá Khanh (1998) [1975]. Vietnamese-English/English-Vietnamese Dictionary (bằng tiếng Anh) . Thành phố New York (Hoa Kỳ): Nhà xuất bản Hippocrene Books. tr.315. ISBN 0-87052-924-2. Việt. Nam:… Tiếng Nam: Vietnamese… Ông ấy có khả năng nói tiếng Nam: He can speak Vietnamese. Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (gợi ý |author=) (trợ giúp)
  6. ^ Hiến pháp năm 2013 (PDF). Quốc hội Việt Nam. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2014.
  7. ^ “Chữ quốc ngữ chưa được Nhà nước công nhận là quốc tự”, Giáo dục VN, 22/12/2012
  8. ^ a b quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 Quy định về chính tả tiếng Việt và về ngôn từ tiếng Việt. Thuvien Phapluat, 2015. Truy cập 12/05/2017.
  9. ^ Codes for the Representation of Names of Languages, Library of Congress. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.
  10. ^ Vietnamese at Ethnologue, 18th ed., 2015. Truy cập 12/12/2017.
  11. ^ Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, eds. (2017). “Vietnamese”. Glottolog 3.1. Jena, Germany: Max Planck Institute for the Science of Human History. Truy cập 12/12/2017.
  12. ^ Âm vị và các hệ thống âm vị tiếng Việt
  13. ^ a b ngôn từ và tên riêng tiếng nước ngoài, Nguyễn Văn Khang (2003), http://www.khoahocviet.info/ Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015
  14. ^ a b VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỪ HÁN VIỆT VÀ VIỆC DẠY HỌC TỪ HÁN VIỆT HIỆN NAY Lưu trữ 2013-04-30 tại Wayback Machine Khoa Việt Nam học, Đại học sư phạm Hà Nội. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015
  15. ^ Lê Nguyễn Lưu, Từ chữ Hán đến chữ Nôm. Huế: nxb Thuận Hóa, 2002. tr 202-210
  16. ^ Về cuốn Tam thiên tự do Ngô Thì Nhậm soạn, HOÀNG HỒNG CẨM[liên kết hỏng] Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (80) 2007; Tr.18-26
  17. ^ Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc, Các từ ngữ gốc Ấn-Âu Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nhà xuất bản Giáo dục, H., 1997, trang 213219.
  18. ^ Giới thiệu về khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Đông Hưng Online, 06/12/2017. Truy cập 30/06/2019.
  19. ^ ‘Demon Slayer’ là phim Nhật ăn khách nhất mọi thời. VnExpress. 26 tháng 2 năm 2021.
  20. ^ Yoshihide Suga trở thành tân thủ tướng Nhật. VnExpress. 16 tháng 9 năm 2020.
  21. ^ HLV Pắc Hang Xeo chính thức làm HLV trưởng đội tuyển bóng đá Việt Nam. Báo Nhân Dân. 11 tháng 10 năm 2017.
  22. ^ a b Tên của HLV Park Hang-seo phát âm như thế nào là chuẩn?. An Ninh Thủ Đô. 31 tháng 1 năm 2018.
  23. ^ Người Việt được công nhận là dân tộc thiểu số tại Séc – DVO – Báo Đất Việt
  24. ^ GIA GIA, DA DA hay ĐA ĐA?
  25. ^ 越南ABC (bằng tiếng Trung). Trang thông tin Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2011.
  26. ^ Thompson, Laurence (1987). A Vietnamese Reference Grammar. University of Hawaii Press. tr.3. ISBN0824811178.
  27. ^ http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/chua-co-quy-dinh-giong-ha-noi-la-chuan-quoc-gia-101568.html
  28. ^ Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Lớp từ thuần Việt. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013.
  29. ^ a b Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Các từ ngữ gốc Hán. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013.
  30. ^ Bác Hồ với gia đình nhà giáo Hồ Mộ La Trịnh Tố Long, Báo điện tử Quân đội nhân dân, Thứ Năm, 18/11/2010. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015
  31. ^ Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Các từ ngữ gốc Ấn-Âu. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013.
  32. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  33. ^ Tháng Giêng trẩy hội Hang Bua. cinet, 2012. Truy cập 22/02/2016.
  34. ^ Trần, Quốc Anh; Phạm, Thị Kiều Ly (tháng 10 năm 2019). Từ Nước Mặn đến Roma: Những đóng góp của các giáo sĩ Dòng Tên trong quá trình La tinh hoá tiếng Việt ở thế kỷ 17. Hội thảo Bốn trăm năm hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ. TP.HCM: Ủy ban Văn hóa, Hội đồng Giám mục Việt Nam.
  35. ^ Vũ Thế Khôi (2009). “Ai “bức tử” chữ Hán – Nôm?”
  36. ^ Ngôi làng đặc biệt của những người Việt ở Quảng Tây (Trung Quốc). VTV News. 17 tháng 9 năm 2018.

✅ Mọi người cũng xem : ý nghĩa cây tùng thơm

kết nối ngoài

Tra:Thể loại:Mục từ tiếng Việthoặccác mục từ tiếng Việttrong từ điển mở tiếng Việt Wiktionary Wikibooks tiếng Anh có chủ đề vềVietnameseWikibooks có một quyển sách tựa đềTiếng Việt
  • Phương thuận tiện liên quan tới Vietnamese language tại Wikimedia Commons
  • Tiếng Việt tại Từ điển bách khoa Việt Nam
  • Vietnamese language tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
  • Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes trên mạng
  • Từ điển tiếng Việt xưa trên mạng nhà sách Sông Hương Lưu trữ 2007-09-26 tại Wayback Machine: Từ điển Việt-Latinh của J.L. Taberd, Từ điển Việt Bồ La, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị
  • Giáo sĩ Bồ Đào nha và chữ Quốc ngữ Lưu trữ 2005-04-28 tại Wayback Machine
  • * GS Lâm Văn Bé, Sách tiếng Việt và Việt học tại các thư viện ngoài Việt Nam (Phần 1) Lưu trữ 2013-05-30 tại Wayback Machine, Phần 2 Lưu trữ 2013-05-30 tại Wayback Machine, hay là Phần 1, Phần 2
  • 㗂越 (bản chữ Nôm) tại VinaWiki

  • Mục lục
  • Lịch sử
  • Trước thời Pháp thuộc
  • Thời Pháp thuộc
  • Sau năm 1945
  • Phương ngữ
  • Nguyên âm
  • Thanh điệu
  • Ngữ pháp
  • Từ vựng
  • Từ thuần Việt
  • Từ Hán Việt
  • Từ có nguồn gốc ẤnÂu
  • Từ có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số
  • Từ hỗn chủng
  • Chữ viết
  • Bộ gõ tiếng Việt và giao tiếp tiếng Việt qua mạng
  • Chú thích
  • Tham khảo
  • liên kết ngoài
  • Video liên quan

Tiếng Việt, cũng gọi là tiếng Việt Nam[5] hay Việt ngữ là ngôn ngữ của người Việt và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam cùng với hơn 4 triệu Việt kiều. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam và là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc.

Tiếng ViệtTiếng ViệtPhát âmtiəŋ vḭət (miền Bắc)tiəŋ jḭək (miền Nam)dùng tại
Yếu tố tiếng Việt là gì

Từ vựng tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng Khmer, tiếng Chăm, tiếng Lào, tiếng Môn, tiếng Pali,… trong sách của John Crawfurd xuất bản năm 1828.

Tải thêm tài liệu liên quan đến bài viết Yếu tố tiếng Việt là gì

]]>

 

Các câu hỏi về các yếu tố tiếng việt là gì

Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê các yếu tố tiếng việt là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết các yếu tố tiếng việt là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết các yếu tố tiếng việt là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết các yếu tố tiếng việt là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về các yếu tố tiếng việt là gì

Các hình ảnh về các yếu tố tiếng việt là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tham khảo thêm dữ liệu, về các yếu tố tiếng việt là gì tại WikiPedia

Bạn hãy tìm nội dung chi tiết về các yếu tố tiếng việt là gì từ web Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại💝 Nguồn Tin tại: https://khoalichsu.edu.vn/💝 Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://khoalichsu.edu.vn/hoi-dap/

Related Posts

About The Author